Giá nông sản hôm nay (14/9): Giá cà phê và hồ tiêu đồng loạt khởi sắc
Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 14/9, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.
GIÁ GẠO ỔN ĐỊNH
Giá lúa gạo hôm nay (14/9) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động, giao dịch mua bán vẫn chậm. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giữ ổn định, còn nhu cầu nhập khẩu lớn của Philippines tiếp tục tạo triển vọng cho xuất khẩu gạo Việt.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.400 - 6.600 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.300 - 6.400 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động ở mốc 6.100 - 6.300 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; lúa tươi OM 34 dao động ở mốc 5.800 - 5.900 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mới chậm, nguồn cung đã giảm nhiều, giá lúa vững. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá lúa chững. Tại Cà Mau, nguồn cung lúa về khá, sức mua được duy trì với lúa Đài Thơm 8, giá vững Tại Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ, Vĩnh Long, giao dịch mua bán mới ít, giá lúa chững.
Tương tự với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.450 - 8.750 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.450 - 7.600 đồng/kg.

Giá gạo lại duy trì ổn định
Tại các chợ lẻ, giá gạo đứng giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 13.500 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp bình ổn. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đứng giá. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 470 - 480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 373 - 377 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 534 - 538 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm đang được chào giá cao nhất, khoảng 453 - 457 USD/tấn. Trong khi đó, sản phẩm cùng loại của Pakistan có giá 406 - 410 USD/tấn.
Ấn Độ vẫn giữ lợi thế cạnh tranh về giá khi gạo trắng 5% tấm chỉ ở mức 364 - 368 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm hiện khoảng 370 - 374 USD/tấn.
Thị trường gạo Philippines đang xuất hiện tín hiệu đáng chú ý khi tồn kho giảm nhanh trong lúc rủi ro thời tiết ngày càng rõ nét. Theo PSA, lượng gạo dự trữ đến ngày 1/8 chỉ còn 2,18 triệu tấn, giảm 6% so với cùng kỳ và giảm tới 13,3% so với tháng 7. Đáng lo hơn, lượng gạo tại NFA giảm hơn 32%, xuống 306.820 tấn, khiến dư địa can thiệp thị trường của Chính phủ bị thu hẹp trước nguy cơ El Niño.
Áp lực này diễn ra trong bối cảnh sản xuất nội địa chưa cho thấy khả năng bù đắp thiếu hụt. Bộ trưởng Nông nghiệp Francisco Tiu Laurel ước tính Philippines có thể thiếu khoảng 900.000 tấn gạo cho tiêu dùng trong năm nay và đang tính phương án nhập tới 5 triệu tấn, mức cao kỷ lục.
Đáng chú ý, nhu cầu nhập khẩu lớn đang tiếp tục củng cố vị thế của Việt Nam. BPI ghi nhận Philippines đã nhập 3,46 triệu tấn gạo tính đến 13/8, trong đó Việt Nam cung cấp 2,56 triệu tấn, tương đương 74%. Đây vừa là cơ hội mở rộng xuất khẩu, vừa cho thấy mức độ phụ thuộc ngày càng lớn của Manila vào nguồn cung bên ngoài.
GIÁ CÀ PHÊ BẬT TĂNG
Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 94.700 - 95.300 đồng/kg, tăng từ 300 - 500 đồng/kg so với cuối tuần trước. Trong đó, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có mức thu mua cao nhất với 95.300 đồng/kg, tăng 300 đồng/kg trong một tuần.

Giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 94.700 - 95.300 đồng/kg
Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng đạt 95.200 đồng/kg, tăng 500 đồng/kg. Lâm Đồng cũng ghi nhận mức tăng 500 đồng/kg, đưa giá thu mua lên 94.700 đồng/kg.
Như vậy, mặc dù vừa giảm 500 đồng/kg trong phiên cuối tuần, giá cà phê nội địa vẫn giữ mức tăng nếu tính chung cả tuần. Mặt bằng hiện tại cao hơn khoảng 300 - 500 đồng/kg so với vùng 94.200 - 95.000 đồng/kg của tuần trước.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê Robusta cũng có một tuần tăng khá mạnh. Hợp đồng giao tháng 11/2026 trên sàn London đóng cửa ở 3.525 USD/tấn, tăng 2,8%, tương đương 95 USD/tấn so với một tuần trước. Hợp đồng giao tháng 1/2027 tăng 2,7%, tương đương 93 USD/tấn, lên 3.508 USD/tấn.
Trái lại, giá cà phê Arabica trên sàn New York giảm mạnh. Hợp đồng giao tháng 12/2026 mất 3,3%, tương đương 9,9 US cent/pound, xuống 285,7 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3/2027 giảm 3,5%, còn 277,2 US cent/pound.
GIÁ TIÊU TĂNG
Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm duy trì trong khoảng 137.000 - 141.000 đồng/kg. So với cuối tuần trước, mặt bằng giá đã tăng từ 2.000 - 4.000 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu với mức thu mua 141.000 đồng/kg. Đứng ngay sau là Đắk Lắk với 140.000 đồng/kg.
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu hiện ở mức 137.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng được thương lái thu mua ở mức 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong số các địa phương khảo sát.
Như vậy, sau khi tăng mạnh vào đầu tuần, thị trường hồ tiêu trong nước đã giữ được mặt bằng mới trong những phiên gần đây. Đáng chú ý, mốc 140.000 đồng/kg đã xuất hiện tại các vùng sản xuất lớn, trong khi mức cao nhất đạt 141.000 đồng/kg.
Thị trường xuất khẩu cũng ghi nhận diễn biến tích cực. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia hiện được niêm yết ở mức 6.939 USD/tấn, tăng 3 USD/tấn so với phiên trước và cao hơn 10 USD/tấn so với một tuần trước.
Đáng chú ý hơn, giá tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l đã được điều chỉnh lên 6.070 - 6.130 USD/tấn, tăng 80 USD/tấn so với cuối tuần trước.
Tiêu đen ASTA 570 của Brazil giữ mức 5.750 USD/tấn, trong khi Malaysia đứng ở 9.300 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, Indonesia đạt 9.500 USD/tấn, tăng 13 USD/tấn trong tuần. Tiêu trắng Việt Nam tăng lên 8.450 USD/tấn, cao hơn khoảng 0,6% so với tuần trước, còn Malaysia giữ nguyên ở 12.200 USD/tấn.
GIÁ CAO SU ỔN ĐỊNH
Trong nước, giá cao su tại các doanh nghiệp duy trì ổn định. Cụ thể, tại Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) bình ổn 18.000 đồng/kg.
Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2-loại 1).
Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) - Nhật Bản hợp đồng giao tháng 9 giữ nguyên ở mức 483,10 Yên/kg. Kỳ hạn tháng 10, giá tăng 8,40 Yên/kg, tương đương 1,83%, lên 458,30 Yên/kg. Hợp đồng giao tháng 11 hiện ở mức 437 Yên/kg.
Tại Thái Lan, giá cao su RSS3 giao tháng 10 ở 92,47 Baht/kg, STR20 ở 84,49 Baht/kg và latex 60% ở 59,75 Baht/kg.
Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên hợp đồng giao tháng 9 giảm 165 Nhân dân tệ/tấn, tương đương 0,89%, xuống 18.400 Nhân dân tệ/tấn. Kỳ hạn tháng 10 giảm 160 Nhân dân tệ/tấn, tương đương 0,87%, còn 18.320 Nhân dân tệ/tấn.
Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 10 từ 240,4 cent/kg tăng lên 249,9 cent/kg, sau đó giảm về 241 cent/kg. Hợp đồng tháng 11 giảm từ 247,6 xuống 239,4 cent/kg.
Tại Malaysia, giá cao su trong trạng thái phân hóa, khi chịu tác động từ đà đi xuống của dầu thô và tâm lý thận trọng trên các thị trường quốc tế. Theo đó, cao su tiêu chuẩn SMR 20 giảm 12,5 sen, xuống 998,5 sen/kg, trong khi mủ latex dạng khối tăng 2 sen lên 712,5 sen/kg.
Theo Bernama, giới giao dịch cho rằng áp lực lên thị trường gia tăng trong bối cảnh nhà đầu tư lo ngại chính sách tiền tệ Mỹ có thể duy trì xu hướng thắt chặt do lạm phát chưa hạ nhiệt như kỳ vọng. Diễn biến kém tích cực của các thị trường toàn cầu cũng khiến lực mua cao su suy yếu.
Tuy nhiên, mức giảm được hạn chế nhờ một số yếu tố hỗ trợ. Triển vọng kinh tế thế giới tương đối ổn định, nhu cầu xe điện tiếp tục tăng và kỳ vọng giá dầu có thể duy trì trên 100 USD/thùng do rủi ro nguồn cung tại Tây Á đang tạo lực đỡ cho cao su.
GIÁ THỊT LỢN KHÔNG GHI NHẬN BIẾN ĐỘNG MỚI
Khảo sát tại miền Bắc, giá lợn hơi tại Thái Nguyên, Hà Nội, Phú Thọ, Hưng Yên, Cao Bằng và Lạng Sơn đã được điều chỉnh giảm. Qua đó, mốc 60.000 đồng/kg từng xuất hiện tại nhiều tỉnh, thành phía Bắc vào đầu tuần đã hoàn toàn biến mất.
Hiện giá lợn hơi miền Bắc chỉ còn dao động trong khoảng 58.000 - 59.000 đồng/kg. Cụ thể, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai và Điện Biên cùng giao dịch ở mức 58.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực.
Các địa phương còn lại duy trì mức 59.000 đồng/kg, cũng là mức cao nhất trên thị trường cả nước hiện nay.
Tại miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi có một số biến động trái chiều trong tuần nhưng nhìn chung không thay đổi đáng kể so với cuối tuần trước. Mặt bằng thu mua hiện duy trì trong khoảng 57.000 - 58.000 đồng/kg.

Giá lợn hơi hôm nay tiếp tục duy trì tương đối ổn định trên cả nước, dao động trong khoảng 57.000 - 59.000 đồng/kg
Trong đó, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Lâm Đồng cùng giữ mức 58.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại giao dịch ở mức 57.000 đồng/kg.
Miền Nam tiếp tục là khu vực ổn định nhất khi giá lợn hơi không thay đổi so với cuối tuần trước.
Cà Mau duy trì mức thấp nhất 57.000 đồng/kg, trong khi các địa phương còn lại được khảo sát cùng giao dịch ở mức 58.000 đồng/kg.
Nhìn chung, thị trường lợn hơi trong tuần qua không xuất hiện biến động mạnh. Điểm đáng chú ý nhất là mặt bằng giá miền Bắc hạ nhiệt, trong khi miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam tương đối ổn định.
Trước đó, vào đầu tuần, mốc 60.000 đồng/kg còn xuất hiện tại Hà Nội, Hưng Yên, Thái Nguyên và Phú Thọ. Tuy nhiên, sau các đợt điều chỉnh, mức cao nhất trên thị trường hiện chỉ còn 59.000 đồng/kg.
Như vậy, biên độ giá lợn hơi trên toàn quốc đã thu hẹp về 57.000 - 59.000 đồng/kg, chênh lệch giữa mức cao nhất và thấp nhất chỉ còn 2.000 đồng/kg.
Miền Bắc dù giảm vẫn tiếp tục giữ mặt bằng cao hơn hai khu vực còn lại. Phần lớn địa phương phía Bắc giao dịch ở 59.000 đồng/kg, trong khi miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam chủ yếu phổ biến ở 57.000 - 58.000 đồng/kg.
Việc giá giảm nhẹ nhưng không xuất hiện tình trạng điều chỉnh mạnh trên diện rộng cho thấy thị trường đang trong giai đoạn tương đối cân bằng.
