Giá xăng dầu trong nước tăng cao, dư địa nào để hạ nhiệt?
Giá xăng dầu trong nước đang chịu sức ép lớn khi thị trường năng lượng toàn cầu biến động mạnh bởi căng thẳng Trung Đông. Dù cơ quan quản lý đã triển khai một số giải pháp, song nhiều chuyên gia cho rằng vẫn còn dư địa để giảm bớt áp lực với doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Xem xét tiếp tục điều chỉnh thuế, phí
Giá xăng dầu trong nước thời gian gần đây liên tục biến động theo diễn biến của thị trường năng lượng toàn cầu. Sau các đợt tăng mạnh, giá xăng RON95 hiện đã vượt mốc 27.000 đồng/lít, trong khi dầu diesel cũng vượt 30.000 đồng/lít, đặc biệt dầu hỏa tăng mạnh nhất với giá bán lẻ hiện là 35.091 đồng/lít. Đà tăng này chủ yếu đến từ việc giá dầu thế giới leo thang khi căng thẳng quân sự tại Trung Đông làm gia tăng rủi ro gián đoạn nguồn cung năng lượng.
Theo các chuyên gia, mức tăng của giá xăng trong nước không chỉ phản ánh giá thế giới mà còn chịu tác động đáng kể từ cấu trúc thuế và cơ chế hình thành giá. Hiện nay giá xăng dầu bán lẻ trong nước được tính toán dựa trên giá cơ sở, trong đó giá thành phẩm xăng dầu thế giới chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 65-70% giá bán lẻ. Phần còn lại bao gồm chi phí kinh doanh định mức, chi phí vận chuyển, lợi nhuận định mức của doanh nghiệp, trích lập hoặc sử dụng Quỹ bình ổn giá và các sắc thuế, gồm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng…
PGS, TS. Phạm Thế Anh - Trưởng khoa Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân - cho rằng cách thiết kế một số sắc thuế hiện nay có thể khiến tác động của giá dầu thế giới bị “khuếch đại” khi truyền dẫn vào giá bán lẻ trong nước. Theo ông, nhiều loại thuế được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá xăng dầu, vì vậy khi giá năng lượng thế giới tăng, số tiền thuế tuyệt đối mà doanh nghiệp và người tiêu dùng phải trả cũng tăng theo.

Theo chuyên gia, hiện vẫn còn dư địa trong việc giảm thuế để hạ nhiệt giá xăng dầu, nhất là thuế tiêu thụ đặc biệt.
Ông Thế Anh lấy ví dụ, với thuế suất 10%, nếu giá xăng dầu nhập khẩu ở mức 20.000 đồng/lít thì số thuế tương ứng là 2.000 đồng. Nhưng khi giá tăng lên 30.000 đồng/lít, mức thuế phải nộp sẽ tăng lên 3.000 đồng/lít.
“Như vậy, khi giá thế giới tăng, người dân không chỉ phải trả phần chi phí nhiên liệu tăng mà còn phải gánh thêm phần thuế tăng theo giá”, ông Phạm Thế Anh phân tích và cho rằng xăng dầu cần được điều chỉnh linh hoạt để hấp thụ bớt cú sốc từ bên ngoài và giảm áp lực lạm phát cho nền kinh tế.
Để hạ nhiệt giá xăng dầu, Chính phủ vừa quyết định giảm thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng dầu về mức 0%. Tuy nhiên, theo vị chuyên gia, việc chỉ giảm thuế nhập khẩu có thể chưa đủ tạo hiệu quả lớn, bởi phần lớn xăng dầu nhập khẩu của Việt Nam đến từ các thị trường đã có mức thuế thấp theo các hiệp định thương mại tự do. Trong khi đó, các sắc thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường và VAT mới là phần tạo ra gánh nặng lớn trong giá bán lẻ.
“Về dài hạn, chính sách thuế xăng dầu nên được thiết kế theo hướng thuế co giãn theo giá hoặc áp dụng thuế trọn gói cố định. Khi giá dầu thế giới tăng mạnh, mức thuế tự động giảm để hạn chế tác động tới chi phí sản xuất và lạm phát; ngược lại, khi giá dầu giảm sâu, Nhà nước có thể tăng thuế để ổn định nguồn thu ngân sách. Ngoài ra, Nhà nước cần xây dựng quỹ ngân sách hoặc cơ chế hỗ trợ giá trong những thời điểm xảy ra cú sốc năng lượng lớn, chẳng hạn sử dụng nguồn thu từ xuất khẩu dầu thô để trợ cấp tạm thời cho thị trường trong nước”, chuyên gia Phạm Thế Anh cho hay.
Cơ chế giá cần sát thị trường
Chia sẻ với PV Tiền Phong, ông Bùi Ngọc Bảo - Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam - cho rằng một trong những nút thắt lớn nhất hiện nay trong việc bảo đảm nguồn cung xăng dầu, đặc biệt là khâu nhập khẩu. Theo ông Bảo, để các doanh nghiệp đầu mối chủ động nhập khẩu và bảo đảm nguồn cung ổn định cho thị trường, giá xăng dầu cần được tính đúng, tính đủ các yếu tố chi phí, bao gồm chi phí nhập khẩu, vận chuyển, tài chính và dự trữ. Nếu cơ chế giá không phản ánh đầy đủ các chi phí này, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì nguồn hàng, nhất là trong giai đoạn giá thế giới biến động mạnh.

Các doanh nghiệp được yêu cầu tăng dự trữ, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu
Thực tế cho thấy, trong một số thời điểm khan hiếm xăng dầu tại Việt Nam thời gian qua, chủ yếu các doanh nghiệp đầu mối nhà nước như Petrolimex hoặc PVOIL vẫn thực hiện đúng sản lượng tạo nguồn được phân giao, dù phải nhập khẩu với giá cao hơn giá bán trong nước. Trong khi đó, nhiều thương nhân đầu mối tư nhân do năng lực tài chính hạn chế nên việc thực hiện đầy đủ sản lượng tạo nguồn được giao gặp nhiều khó khăn.
“Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến thị trường có thể xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn cung cục bộ trong một số thời điểm”, ông Bảo nhận định và cho rằng việc hoàn thiện cơ chế điều hành thị trường xăng dầu trong thời gian tới cần hướng tới tăng tính thị trường trong cơ chế giá, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết Việt Nam hiện chưa phải sử dụng đến nguồn dự trữ xăng dầu quốc gia. Các doanh nghiệp đầu mối vẫn đang duy trì mức dự trữ thương mại theo quy định, tương đương khoảng 20 ngày cung ứng cho thị trường.
Theo ông Tân, nguồn cung xăng dầu trong nước hiện được bảo đảm từ cả hai nguồn sản xuất và nhập khẩu. Hai nhà máy lọc dầu lớn là Dung Quất và Nghi Sơn vẫn đang vận hành ổn định, cung ứng phần lớn nhu cầu thị trường, trong khi nguồn nhập khẩu được đa dạng hóa từ nhiều khu vực khác nhau. Vì vậy, trong ngắn hạn, nguy cơ thiếu hụt nguồn cung xăng dầu được đánh giá là không lớn.
“Trong thời gian tới, bộ sẽ nghiên cứu đề xuất nâng quy mô dự trữ xăng dầu chiến lược, đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch năng lượng, như phát triển xe điện, mở rộng sử dụng nhiên liệu sinh học và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng nhằm góp phần giảm áp lực nhu cầu tiêu thụ xăng dầu”, Thứ trưởng Tân cho hay.












