Giai đoạn 'giải nén' nền kinh tế
Trao đổi tiếp với Tuần Việt Nam trong bối cảnh Đại hội Đảng lần thứ XIV đang diễn ra, TS Trần Đình Thiên – thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng – cho rằng nền kinh tế Việt Nam đang bước vào một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn 'giải nén'.
Xem lại kì 1: 'Mục tiêu tăng trưởng hai con số là bài toán dám bỏ cách làm cũ'
“Giải nén” phát triển
Thưa ông, ông nói cảm giác lớn nhất lúc này là một trạng thái “giải nén”. “Giải nén” là gì, và vì sao ông dùng hình ảnh đó cho nền kinh tế Việt Nam bước vào chu kỳ mới?
TS Trần Đình Thiên: Ở góc độ cảm xúc, nhìn vào thời điểm hiện nay – bước vào năm đầu tiên của một chu kỳ phát triển mới với những tham vọng rất lớn – triển vọng dài hạn là tích cực. Là người đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của nền kinh tế, tôi cảm nhận rõ nhất lúc này trạng thái “giải nén”.
Đây không chỉ là “đột phá” theo nghĩa thông thường, mà là giải nén phát triển. Sau hơn 40 năm đổi mới, nền kinh tế đã tích tụ rất nhiều năng lượng, nhưng cũng bị nén lại bởi không ít điểm nghẽn. Nhiều khi mở ra nhanh mà không đủ không gian thì lại nghẽn tiếp. Bây giờ, trọng tâm là giải phóng những điểm nghẽn, thậm chí là “điểm nghẽn của chính điểm nghẽn”.
Giải nén luôn đi kèm lo ngại - về sự quá đà... Nhưng khi cho nền kinh tế “chạy nhảy” theo cách thử nghiệm, sáng tạo, thì sức vóc của nó sẽ được bung đúng tầm, lớn lên như thông thường. Một nền kinh tế bị bó chặt quá lâu thì khó có thể phát triển mạnh lên.

TS Trần Đình Thiên: Nhìn vào thời điểm hiện nay – bước vào năm đầu tiên của một chu kỳ phát triển mới với những tham vọng rất lớn – triển vọng dài hạn là tích cực
Giải nén có vẻ là câu chuyện của thị trường và doanh nghiệp. Nhưng ông lại nhấn mạnh: điều kiện tiên quyết là Nhà nước cũng phải được “giải nén”, có nghĩa là gì thưa ông?
Muốn giải nén nền kinh tế thì Nhà nước phải được “giải nén”. Tức là tháo bỏ những ràng buộc không cần thiết, giải phóng tư duy và cơ chế. Nếu bộ máy bị bó chặt bởi quá nhiều nỗi sợ và nhiều tầng nấc, thì doanh nghiệp cũng không thể bật lên.
Với mức độ quyết liệt hiện nay, có cơ sở để kỳ vọng rằng quá trình giải nén này sẽ đi đến nơi đến chốn, chứ không dừng ở khẩu hiệu. Nhưng phải thẳng thắn: giải nén Nhà nước không chỉ là sửa một vài thủ tục, mà là thay đổi cách vận hành.
Niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với bộ máy liên quan trực tiếp đến việc giải nén được hay không. Có những lĩnh vực được người dân rất tin tưởng, nhưng theo thời gian lại nảy sinh những hoài nghi. Điều này đặt ra yêu cầu rất rõ: bộ máy phải được chỉnh đốn nghiêm túc, kỷ cương phải được củng cố, không được gây phiền hà, khó dễ hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Đất nước muốn đi lên thì không thể bị kéo lại bởi lợi ích cục bộ ngành, địa phương. Vượt qua các rào cản này không dễ, nhưng là điều buộc phải làm để tạo động lực cho tăng trưởng cao.
Khu vực trong nước chưa được coi trọng
Nhìn lại hơn 40 năm đổi mới, ông cho rằng một bất cập lớn là khu vực trong nước chưa được coi trọng đúng mức. Vậy “điều kiện bình đẳng” ông nói cụ thể là gì?
Tôi cho rằng, vẫn còn nhiều chênh lệch trong phát triển xuất phát từ việc khu vực trong nước chưa được coi trọng đúng mức, trong khi điều kiện thuận lợi dành cho khu vực nước ngoài lại rõ ràng hơn.
Thực tế, nhà đầu tư nước ngoài không hẳn cần ưu đãi trực tiếp. Việc Việt Nam ký kết và tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do đã tự thân tạo ra ưu đãi. Các doanh nghiệp nước ngoài không phải chịu lãi suất cao do họ không – ít phải vay vốn của Việt Nam hay không phải gánh chi phí giao dịch lớn, môi trường kinh doanh ổn định hơn — như vậy là “ưu đãi” rồi.
Theo lý đó, đáng lẽ ta phải gỡ khó cho các doanh nghiệp Việt, tạo môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp trong nước “bình đẳng” với môi trường dành cho doanh nghiệp nước ngoài. Nhiệm vụ phải là tạo môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp Việt, chí ít cũng ngang bằng, chứ không phải đẩy họ vào thế bất lợi.
Ông có thể nêu một ví dụ cụ thể?
Ví dụ rõ nhất là lãi suất. Doanh nghiệp Việt Nam không thể cạnh tranh nếu phải vay vốn với lãi suất 9–10%, thậm chí 13-15%, trong khi doanh nghiệp nước ngoài chỉ chịu mức 5-7% hoặc thấp hơn. Muốn doanh nghiệp trong nước vươn lên, thì chi phí vốn phải được kéo xuống mức hợp lý.
Bên cạnh đó là quy trình, thủ tục và chi phí giao dịch, doanh nghiệp Việt cũng gánh “nặng” hơn. Nếu những chi phí này giảm xuống, doanh nghiệp trong nước sẽ “ăn to”, có dư địa để đầu tư, đổi mới và cạnh tranh.
Định hướng lớn của Trung ương thời gian tới là hỗ trợ mạnh khu vực kinh tế nội địa, tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi, công bằng, tiệm cận với điều kiện mà doanh nghiệp nước ngoài đang được hưởng. Và không chỉ dừng ở đó, cả hai khu vực - đều là của nền kinh tế Việt Nam - phải cùng được cải thiện để bắt kịp tiêu chuẩn quốc tế hiện đại.

Những sự kiện khởi công, động thổ hàng loạt dự án lớn trong năm 2025 cho thấy Việt Nam đã định hình được chiến lược đầu tư quốc gia với các dự án quy mô lớn
Một số ý kiến lo ngại: Ưu tiên doanh nghiệp trong nước có thể bị hiểu là không tạo nhiều điều kiện cho doanh nghiệp FDI. Ông nhìn nhận thế nào?
Cần có cách nhìn đúng bản chất: doanh nghiệp nước ngoài được hưởng môi trường thuận lợi, thì doanh nghiệp trong nước cũng phải được tạo điều kiện tương xứng.
Ta không “kéo” doanh nghiệp FDI xuống mà là “nâng” doanh nghiệp Việt lên bởi sự bình đẳng, công bằng. Vấn đề là tạo một mặt bằng chung tốt hơn cho cả hai bên.
Tôi cũng muốn nói thêm: nhiều quốc gia châu Á có chiến lược rất rõ ràng, họ không thu hút ồ ạt doanh nghiệp nhỏ và vừa nước ngoài vì nhóm này thường mang lại giá trị gia tăng thấp và gây áp lực lớn lên môi trường quản lý. Trong thời gian 10-15 năm gần đây, Việt Nam chưa định hình rõ cách tiếp cận nên để phát sinh nhiều hệ lụy.
Chiến lược đầu tư quốc gia
Nhìn về năm 2026, ông nói sẽ khó khăn nhưng “vận hội” hiện ra khá rõ. Vận hội lớn nhất theo ông là gì?
Trước hết, ta đang có một động lực tăng trưởng rất mạnh là tháo gỡ các dự án bị ách tắc. Như đã nói, quy mô của các dự án này lớn đến mức khó có thể tính hết bằng con số. Chỉ cần gỡ được một phần, hiệu ứng đối với tăng trưởng đã rất đáng kể.
Quan trọng hơn, tháo gỡ không chỉ để “cứu” các dự án cũ, mà để phát hiện và loại bỏ những điểm vô lý trong cơ chế, quy trình hiện hành. Khi những điểm nghẽn này được nhận diện và xử lý, chúng sẽ không tái diễn với các dự án mới. Dự án sau sẽ triển khai nhanh hơn, thuận lợi hơn, hiệu quả hơn, chứ không lâm vào tình trạng “gỡ xong lại vướng tiếp”.
Thực tế thời gian qua cho thấy, khi Chính phủ quyết tâm vào cuộc, nhất là trong lĩnh vực nhà ở, việc rà soát từng dự án cụ thể giúp phát hiện rất nhiều thủ tục, quy trình bất hợp lý. Việc tổng kết những vướng mắc này sẽ giúp xây dựng cơ chế mới thông thoáng hơn. Đây là tinh thần mà Tổng Bí thư đã nhiều lần nhấn mạnh.
Hiệu quả, theo nghĩa này, cần được coi là động lực quan trọng nhất để hỗ trợ tăng trưởng trong giai đoạn tới, không kém gì việc bơm thêm nguồn lực. Đặt vấn đề như vậy là hoàn toàn có lý.
Cùng với chống lãng phí, ông đánh giá thế nào về chiến lược đầu tư quốc gia đang được định hình qua các dự án lớn?
Những sự kiện khởi công, động thổ hàng loạt dự án lớn trong năm 2025 cho thấy Việt Nam đã định hình được chiến lược đầu tư quốc gia với các dự án quy mô lớn. Nếu triển khai đồng bộ trong 5 năm tới, các dự án này sẽ tạo ra động lực tăng trưởng mạnh và rõ ràng.
Đặc biệt, cách tiếp cận này cho phép huy động vốn khu vực tư nhân, chiếm khoảng 70–80% tổng nguồn lực đầu tư, trong khi đầu tư công chỉ 20-30%. Với tỷ lệ như vậy, vai trò của khu vực tư nhân càng được khẳng định rõ. Và đó là nền tảng cho tăng trưởng bền vững trung hạn.
Bên cạnh đó, hệ thống giao thông kết nối một cách tổng thể, đồng bộ sẽ giúp giảm mạnh chi phí logistics. Hiện nay, chi phí logistics của Việt Nam chiếm 17–18% GDP. Chỉ cần giảm 1–2% trong số đó, hiệu quả tương đương với việc tạo thêm 1-2% GDP.

Hệ thống giao thông kết nối một cách tổng thể, đồng bộ sẽ giúp giảm mạnh chi phí logistics. Ảnh: Hoàng Hà
Nhưng ông cũng cảnh báo rủi ro nếu “bơm vốn kiểu cũ”. Vậy rủi ro lớn nhất là gì?
Bơm vốn theo kiểu cũ, trong khi các điều kiện khác không được chuẩn bị đầy đủ, thì nền kinh tế sẽ gặp rủi ro. Nếu chỉ tuyên truyền theo hướng “dồn vốn cho hạ tầng đầu tàu”, sẽ bỏ qua thực tế là các đầu tàu ấy còn thiếu rất nhiều yếu tố khác: hạ tầng, nhân lực, cơ chế, năng lực quản trị.
Giống như một đoàn tàu có động cơ mạnh nhưng lại thiếu bánh xe hay thiếu lái tàu. Vì vậy, bên cạnh việc dồn nguồn lực, phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện khác.
Ông nhấn mạnh “trao quyền để sáng tạo”, nhưng cũng nói “trao quyền phải đi kèm cơ chế bảo đảm an toàn cho người thực thi”. Vướng mắc nằm ở đâu?
Trung ương hiện nay đã tạo điều kiện rất lớn cho các địa phương chủ động. Những gì khó thì địa phương được chủ động đề xuất, chủ động làm. Tinh thần này rất đúng: trao quyền để sáng tạo, không giới hạn bằng những khuôn mẫu cũ.
Nhưng trao quyền phải đi kèm cơ chế bảo đảm an toàn cho người thực thi. Trao quyền mà không bảo vệ người làm thì không ai dám làm, và như thế thì trao quyền chỉ là hình thức. Trao quyền và bảo đảm cho người thực thi là trách nhiệm của Nhà nước, của Trung ương chứ không thể phó mặc cho địa phương hay doanh nghiệp tự xoay xở trong rủi ro.
Doanh nghiệp cần lãi suất thấp và ổn định
Một câu hỏi nóng là lãi suất. Ông nói khó nhất không phải hạ lãi suất đơn lẻ, mà là hạ mặt bằng lãi suất bền vững. Vì sao?
Hạ lãi suất cho một vài đối tượng trong một thời gian ngắn, có tính chất “cứu nguy” là cần thiết. Nhưng hạ cục bộ ngắn hạn rồi lại tăng lên duy trì mức lãi suất cao dài hạn thì không giải quyết được căn bản về chiến lược. Điều doanh nghiệp Việt Nam, với tuyệt đại bộ phận là nhỏ yếu, cần là mặt bằng lãi suất thấp, ổn định dài hạn. Khí đó, toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp cùng được hưởng, có cơ sở hoạch định chiến lược lâu dài và có điều kiện ngang bằng giá vốn trong cuộc cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.
Mặt bằng lãi suất của Việt Nam hiện nay vẫn cao hơn nhiều nước. Câu hỏi là hạ bằng cách nào. Về nguyên tắc, đây là điểm phải đặc biệt lưu ý. Về nguyên tắc, nó cần sự hỗ đặc biệt mạnh mẽ và đầy can đảm của Nhà nước.
Cũng cần nhìn chuyện lãi suất theo chu kỳ. Khi hút tiền nhanh, lập tức xuất hiện độ chênh giữa tiết kiệm và tín dụng. Độ chênh giãn ra thì lãi suất tăng để điều chỉnh lại — đó là phản ứng tự nhiên của thị trường. Không nên nhìn hiện tượng này theo hướng lo ngại vì như thế dễ gây hoảng loạn và bất ổn.
Ông có đề xuất cụ thể nào để kéo mặt bằng lãi suất xuống, mà không lặp lại những sai lầm trong quá khứ?
Trong bối cảnh ngân sách nhà nước đang tương đối dồi dào, Nhà nước hoàn toàn có thể sử dụng công cụ tài khóa để hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp.
Ví dụ, Nhà nước có thể bù 1- 2 điểm phần trăm lãi suất cho hệ thống ngân hàng, với yêu cầu rõ ràng là các ngân hàng thương mại phải hạ đồng loạt lãi suất cho vay trong nền kinh tế, không phân biệt đối tượng, trong một khoảng thời gian nhất định, có thể hai - ba năm hoặc dài hơn. Sau đó, tiếp tục lộ trình hạ thêm một số điểm phần trăm, tùy theo tình hình, nhờ đó từng bước đưa mặt bằng lãi suất trong nước tiệm cận mặt bằng quốc tế.
Khi mặt bằng lãi suất đã ổn định đủ vững chắc, việc hỗ trợ từ ngân sách sẽ được rút lại theo lộ trình dài hay ngắn, tùy theo thực lực nền kinh tế và nhu cầu của doanh nghiệp Việt. Điểm mấu chốt là giúp doanh nghiệp Việt Nam thoát khỏi chi phí vốn quá cao để cạnh tranh được. Việc này chỉ Nhà nước mới làm được, chứ không thể trông chờ vào ngân hàng, vì ngân hàng cũng là doanh nghiệp.
Tôi biết Bộ Tài chính thường lo ngại khi nói đến cấp bù lãi suất, bởi trong quá khứ có chương trình không đạt hiệu quả. Lo ngại là chính đáng. Nhưng nếu tiếp tục sợ rủi ro mà không dám thiết kế một cơ chế mới, khác căn bản so với trước, thì bài toán chi phí vốn cao của doanh nghiệp Việt Nam sẽ không có cơ giải quyết.
Về mặt kỹ thuật và kinh tế, không có gì là không làm được. Cái khó nhiều khi không nằm ở kỹ thuật, mà nằm ở tư duy, ở mức độ quyết tâm và sẵn sàng hành động.
Nếu phải chỉ ra các điểm nghẽn nền tảng của tăng trưởng trung hạn, ông sẽ chọn những gì?
Thứ nhất là đất đai. Đây là rủi ro lớn. Đất đai là tài sản quốc gia nhưng cũng là đầu vào của phát triển, là một dạng vốn đầu tư (chính là khái niệm vốn – capital mà Karl Marx đề cập trong bộ Tư bản). Vấn đề là chúng ta chưa chuyển hóa theo đúng xu thế chuyển đổi và hiệu quả từ “tài sản – lãnh thổ” quốc gia sang “nguồn lực thị trường – vốn đầu vào” cho các chủ thể thị trường sử dụng. Quyền tài sản chưa được định hình đầy đủ theo nguyên tắc thị trường.
Thứ hai là vốn. Doanh nghiệp huy động vốn vẫn rất khó. Đầu tư công giải ngân mạnh, dòng vốn ra – vào nhiều, nhưng khu vực tư nhân Việt Nam tăng vốn chậm nhất trong các khu vực sản xuất, trong khi vốn cho các lĩnh vực đầu cơ tăng nhanh. Tiếp cận vốn cho nền kinh tế, khi đó, dễ rủi ro, tạo thành điểm nghẽn lớn, bởi điều kiện tín dụng và điều kiện bảo đảm còn nhiều rào cản. Thị trường vốn phải được nhìn nhận là “mạch máu” đúng nghĩa của nền kinh tế. Mạch máu không thông thì cơ thể không thể khỏe.
Chúng ta nói nhiều đến “xác định giá đất theo thị trường”. Nhưng thực tế gần đây cho thấy đó lại là giá của thị trường đầu cơ, không phải thị trường đúng nghĩa. Giá đất vì thế, bị “méo” từ điểm xuất phát; cơ chế định giá đã bị lệch nguyên tắc thị trường. Nhà nước có thuế, có phí là những công cụ cực kỳ hiệu nghiệm để hạn chế đầu cơ. Rất tiếc, các công cụ này chưa được sử dụng thật hiệu quả. Nếu chạy theo “giá sẵn có”, coi mức giá tại một thời điểm nào đó - nhất là khi đó là giá đã bị “kích” - là “giá thị trường đúng”, rất dễ rơi vào bẫy đầu cơ.
Thứ ba là nguồn nhân lực và giáo dục. Nguồn nhân lực buộc phải thay đổi, gắn trực tiếp với cải cách giáo dục. Cải cách giáo dục không phải là sửa vài câu chữ hay chỉnh sửa kỹ thuật. Phải thay đổi tận gốc triết lý giáo dục: từ giáo dục “với chức năng cung cấp tri thức kiểu thụ động, bắt học thuộc lòng, mang tính áp đặt, nhồi nhét, sang nền giáo dục khai phóng, cung cấp tri thức động và năng lực tư duy độc lập sáng tạo. Khuyến khích tranh luận, mở rộng không gian sáng tạo phải là chức năng cơ bản của nền giáo dục vì con người, đặc biệt là trong thời đại trí tuệ - đổi mới sáng tạo hiện nay.
Một điểm mấu chốt khác là bây giờ phải nhìn con người và trí tuệ nhân tạo (AI) như một chỉnh thể. Con người trí tuệ sáng tạo càng phải gắn với trí tuệ nhân tạo. AI là công cụ gần với con người nhất trong tất cả các công cụ công nghệ; nó là sự “hóa thân” của trí tuệ con người. Nếu không thiết kế hệ thống giáo dục theo hướng tích hợp, cộng hưởng trí tuệ người với “trí tuệ” do con người tạo ra, chúng ta sẽ tự làm chậm mình, tự lãng phí nguồn lực trí tuệ và cuối cùng tự làm yếu nền kinh tế.
Đó chính là cơ hội tuyệt đối của Việt Nam trong thời đại “vươn mình” để “sánh vai”.
Xin cảm ơn ông.
Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/giai-doan-giai-nen-nen-kinh-te-2483364.html












