Giải pháp đột phá FDI để thúc đẩy nội lực quốc gia

Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác lập vai trò mới của khu vực FDI, không chỉ bổ sung nguồn lực mà còn thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Sau gần 40 năm thu hút FDI, Việt Nam đang chuyển sang lựa chọn dòng vốn chất lượng cao, chú trọng hiệu quả lan tỏa và năng lực nội sinh. PV Báo CAND đã trao đổi với ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE), xung quanh những định hướng mới của Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kỳ vọng về dòng vốn FDI chất lượng cao trong thời gian tới.

PV: Nghị quyết số 10 được đánh giá là dấu mốc quan trọng khi chuyển từ tư duy "thu hút FDI bằng mọi giá" sang "lựa chọn và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư nước ngoài". Theo ông, đâu là điểm đột phá lớn nhất của Nghị quyết?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Theo tôi, điểm đột phá lớn nhất chính là sự thay đổi về tư duy và mục tiêu.

Trước đây, chúng ta chủ yếu quan tâm đến quy mô vốn đầu tư, số lượng dự án, giải quyết việc làm hay đóng góp cho xuất khẩu và tăng trưởng GDP. Nhưng trong giai đoạn mới, FDI được nhìn nhận là một thành phần kinh tế quan trọng, không phải để thay thế nội lực mà cùng Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam kiến tạo giá trị, đóng góp vào sự phát triển lâu dài của đất nước.

Ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE).

Ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE).

Đây là thay đổi rất căn bản. Đầu tư nước ngoài không còn đơn thuần được nhìn nhận là nguồn vốn hay công nghệ, mà là công cụ để kích thích nội lực phát triển. Muốn phát triển bền vững, Việt Nam phải có doanh nghiệp trong nước đủ mạnh. Thành công của FDI không chỉ được đo bằng số vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu, mà còn ở khả năng giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Chính tư duy này sẽ đưa Việt Nam từ vị thế thụ động tiếp nhận vốn sang chủ động lựa chọn những tập đoàn công nghệ hàng đầu, những nhà đầu tư chiến lược có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao.

PV: Nghị quyết nhấn mạnh chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo và liên kết với doanh nghiệp trong nước là tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư. Theo ông, Việt Nam cần làm gì để những định hướng này trở thành hiện thực?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Điều quan trọng nhất là Việt Nam phải chuẩn bị một hệ sinh thái đầu tư đủ mạnh.

Theo tôi, hệ sinh thái đó được xây dựng trên ba trụ cột.

Thứ nhất là thể chế. Chính sách phải minh bạch, ổn định, dễ dự báo và dễ thực thi, tạo niềm tin để nhà đầu tư yên tâm gắn bó lâu dài.

Thứ hai là hạ tầng. Không chỉ phát triển giao thông và logistics, Việt Nam cần đầu tư đồng bộ hạ tầng số và hạ tầng xã hội. Muốn thu hút các tập đoàn công nghệ cao thì phải có môi trường sống, giáo dục, y tế và nhà ở đáp ứng yêu cầu của đội ngũ chuyên gia quốc tế.

Thứ ba là xây dựng bộ tiêu chí cụ thể để xác định thế nào là công nghệ cao, nhà đầu tư chiến lược hay dự án chất lượng cao. Khi có tiêu chí rõ ràng mới có thể lựa chọn đúng đối tượng.

Bên cạnh đó, cần thay đổi tư duy về công nghệ. Không nên chỉ kỳ vọng vào "chuyển giao công nghệ", bởi công nghệ không tự nhiên được chuyển giao. Việt Nam phải chủ động mua công nghệ, hợp tác phát triển công nghệ và mạnh dạn áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), đồng thời có cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các quỹ đầu tư đối với các dự án đổi mới sáng tạo.

PV: Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt, đặc biệt sau thuế tối thiểu toàn cầu, đâu là lợi thế cạnh tranh mới của Việt Nam?

PV: Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt, đặc biệt sau thuế tối thiểu toàn cầu, đâu là lợi thế cạnh tranh mới của Việt Nam?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Ngoài những lợi thế truyền thống như ổn định chính trị, vị trí địa lý thuận lợi và hội nhập quốc tế sâu rộng, theo tôi Việt Nam đang hình thành hai lợi thế cạnh tranh mới.

Thứ nhất là cuộc cách mạng về cải cách thể chế. Hàng loạt nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị như Nghị quyết số 57 về khoa học - công nghệ, Nghị quyết số 59 về hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 66 về hoàn thiện pháp luật, Nghị quyết số 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 10 về FDI đang tạo ra nền tảng thể chế mới với môi trường đầu tư ngày càng minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.

Thứ hai là cuộc cách mạng về hạ tầng. Việt Nam đang đầu tư mạnh vào hạ tầng giao thông, logistics, hạ tầng số và hạ tầng xã hội, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo niềm tin cho các tập đoàn quốc tế khi lựa chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư dài hạn.

PV: Theo ông, đâu là điểm nghẽn lớn nhất trong việc tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là năng lực của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong công nghiệp hỗ trợ và nguồn nhân lực.

Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, chúng ta cần nâng cao chất lượng đào tạo nghề theo tiêu chuẩn quốc tế; thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đến các trung tâm công nghệ; đồng thời có chính sách đủ hấp dẫn để thu hút chuyên gia quốc tế làm việc lâu dài tại Việt Nam.

Quan trọng hơn, liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước phải dựa trên lợi ích kinh tế chứ không thể bằng mệnh lệnh hành chính. Doanh nghiệp Việt phải chủ động nâng cao năng lực, còn doanh nghiệp FDI cần phối hợp với Chính phủ để phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp vệ tinh trong nước.

Muốn tận dụng được dòng vốn FDI chất lượng cao thì trước hết doanh nghiệp Việt phải đủ mạnh.

Muốn tận dụng được dòng vốn FDI chất lượng cao thì trước hết doanh nghiệp Việt phải đủ mạnh.

PV: Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để không chỉ tham gia mà còn trở thành đối tác chiến lược trong chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Không có quốc gia nào phát triển chỉ dựa vào doanh nghiệp FDI. Đầu tư nước ngoài chỉ là động lực để kích thích nội lực. Muốn tận dụng được dòng vốn FDI chất lượng cao thì trước hết doanh nghiệp Việt phải đủ mạnh.

Trong giai đoạn mới, doanh nghiệp trong nước không thể chỉ làm gia công hay cung ứng những sản phẩm đơn giản mà phải chủ động đầu tư công nghệ, đổi mới quản trị, nâng cao tiêu chuẩn chất lượng và năng lực đổi mới sáng tạo để đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn đa quốc gia.

Quan trọng hơn, doanh nghiệp Việt cần chuyển từ tư duy cạnh tranh đơn lẻ sang liên kết để hình thành chuỗi giá trị, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi doanh nghiệp Việt đủ năng lực hợp tác bình đẳng với doanh nghiệp FDI thì hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, quản trị và giá trị gia tăng mới thực sự được phát huy.

Sự tăng trưởng của cả vốn đăng ký và vốn thực hiện là minh chứng rõ nhất cho niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đối với Việt Nam.

Sự tăng trưởng của cả vốn đăng ký và vốn thực hiện là minh chứng rõ nhất cho niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đối với Việt Nam.

PV: Hà Nội đang đặt mục tiêu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, công nghệ cao của cả nước. Theo ông, đâu là lợi thế nổi bật của Thủ đô trong cuộc cạnh tranh thu hút FDI chất lượng cao?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Hà Nội có nhiều lợi thế mà không phải thủ đô nào cũng có. Đó là bề dày lịch sử, văn hóa, môi trường tri thức cùng hệ thống các trường đại học, viện nghiên cứu và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đặc biệt, Luật Thủ đô năm 2026 tạo cho Hà Nội nhiều cơ chế đặc thù để thu hút các dự án công nghệ cao và đổi mới sáng tạo. Với vai trò là trung tâm của Vùng Thủ đô, Hà Nội còn có dư địa rất lớn để kết nối chuỗi cung ứng và thu hút các nhà đầu tư chiến lược.

Tuy nhiên, để biến lợi thế thành sức cạnh tranh thực sự, Hà Nội cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển đồng bộ hạ tầng logistics, hạ tầng số và hạ tầng xã hội, đồng thời cải thiện chất lượng môi trường sống.

Theo tôi, yếu tố quyết định vẫn là nguồn nhân lực. Hà Nội cần có cơ chế đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân nhân tài, từ chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc đến điều kiện sinh sống và thủ tục thuận lợi cho chuyên gia quốc tế.

Bên cạnh đó, Hà Nội cần phát huy vai trò đầu tàu trong thu hút đầu tư bằng cách tăng cường đối thoại với doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ khó khăn và đặc biệt là thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Khi doanh nghiệp Việt tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia, hiệu quả lan tỏa của dòng vốn FDI mới được phát huy đầy đủ.

Trong 5 năm tới, FDI sẽ tập trung mạnh vào bán dẫn, AI, công nghệ cao, năng lượng xanh, kinh tế số và các trung tâm R&D.

Trong 5 năm tới, FDI sẽ tập trung mạnh vào bán dẫn, AI, công nghệ cao, năng lượng xanh, kinh tế số và các trung tâm R&D.

PV: Kết quả thu hút FDI trong 6 tháng đầu năm cho thấy cả vốn đăng ký và vốn giải ngân đều tăng mạnh. Ông kỳ vọng như thế nào về dòng vốn FDI trong thời gian tới?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Sự tăng trưởng của cả vốn đăng ký và vốn thực hiện là minh chứng rõ nhất cho niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đối với Việt Nam.

Niềm tin đó không chỉ đến từ chính sách ưu đãi hay hoạt động xúc tiến đầu tư, mà quan trọng hơn là từ thành công của các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam. Thước đo rõ nhất chính là các dự án mở rộng đầu tư. Chỉ khi doanh nghiệp làm ăn hiệu quả và nhìn thấy triển vọng lâu dài thì họ mới tiếp tục rót thêm vốn.

Trong khoảng 5 năm tới, tôi kỳ vọng dòng vốn FDI sẽ tiếp tục dịch chuyển mạnh vào các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ cao, năng lượng xanh, kinh tế số và các trung tâm nghiên cứu - phát triển (R&D).

Nếu tiếp tục cải cách thể chế, phát triển đồng bộ hạ tầng và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng một hệ sinh thái đầu tư hiện đại, nơi Nhà nước, doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI cùng kiến tạo, cùng chia sẻ lợi ích và cùng tạo ra giá trị gia tăng bền vững cho nền kinh tế.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Lưu Hiệp (thực hiện)

Nguồn CAND: https://cand.vn/giai-phap-dot-pha-fdi-de-thuc-day-noi-luc-quoc-gia-post819420.html