Giảm lãi suất đang trở thành bài toán 'lưỡng nan'
Dù Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên tục phát đi các thông điệp và yêu cầu hệ thống tổ chức tín dụng giảm lãi suất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên mặt bằng lãi suất huy động thực tế vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.
Mặt bằng lãi suất “lội ngược dòng”
Giai đoạn năm 2024 và phần lớn năm 2025 ghi nhận mặt bằng lãi suất huy động được duy trì ở mức thấp, nhằm kích thích tăng trưởng tín dụng và hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, bước sang quý 4-2025 và đặc biệt là những tháng đầu năm 2026, xu hướng này đã đảo chiều rõ rệt. Các ngân hàng thương mại (NHTM) liên tục điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi, tập trung mạnh vào các kỳ hạn từ 6 - 24 tháng nhằm đón dòng vốn trung và dài hạn.
Đáng chú ý, làn sóng tăng lãi suất không chỉ khu biệt ở nhóm ngân hàng cổ phần quy mô nhỏ và vừa, mà đã lan sang cả các NHTM có vốn cổ phần Nhà nước (nhóm Big 4).
Trước thực trạng trên, NHNN đã liên tục có những biện pháp can thiệp nhằm điều tiết mặt bằng lãi suất. Sự quyết liệt của NHNN giúp thị trường lãi suất huy động có dấu hiệu hạ nhiệt ngắn hạn trong tháng 4. Nhưng bước sang tháng 5 và đầu tháng 6-2026, lãi suất huy động bật tăng trở lại.

Thống kê nhóm các NHTM đang có mức lãi suất tiết kiệm cao nhất hiện nay. Ảnh: H.V
Khảo sát thực tế cho thấy, trong tháng 6, nhiều ngân hàng tư nhân và các kênh tiết kiệm trực tuyến (online) duy trì mức lãi suất từ 7%/năm trở lên cho các kỳ hạn dài. Mức lãi suất phổ biến cao nhất dao động quanh 7,1%/năm (kỳ hạn 12 - 18 tháng).
Đáng chú ý, một số nhà băng còn có các mức lãi suất cá biệt dành cho những khoản tiền gửi quy mô lớn hoặc đi kèm điều kiện đặc biệt, mức lãi suất thực tế được đẩy lên tới 9 - 10%/năm.
Các NHTM có vốn Nhà nước cũng không đứng ngoài “cuộc đua”. Số liệu báo cáo của Công ty Chứng khoán MBS cho thấy, đầu tháng 6 BIDV nâng lãi suất gửi online lên mức cao nhất 6,8%/năm cho kỳ hạn từ 12 tháng trở lên (cao hơn hẳn mức 6%/năm tại quầy).
Vietcombank áp dụng mức 6,6 - 6,8%/năm cho tiền gửi trực tuyến, đồng thời phát hành chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 12 tháng với lãi suất cố định lên tới 7,4%/năm.
Thế "lưỡng nan" trong điều hành lãi suất
Theo các báo cáo phân tích của VDSC, MBS và giới chuyên gia tài chính, việc lãi suất huy động duy trì ở mức cao không phải là hiện tượng ngắn hạn, mà xuất phát từ các áp lực mang tính cơ cấu và bối cảnh quốc tế.
Có thể nhận thấy, đây là cuộc đua giành giật thị phần vốn do các ngân hàng đang mất cân đối thanh khoản, thể hiện rõ sự lệch pha nghiêm trọng giữa tốc độ tăng trưởng cho vay và tốc độ huy động tiền gửi. Tính đến cuối tháng 5-2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 5,71%, trong khi tăng trưởng huy động vốn chỉ ở mức 2,98%. Tính theo trị số tuyệt đối, chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và nguồn vốn huy động trên thị trường ước vượt 2,5 triệu tỷ đồng.

Ảnh minh họa. Ảnh: L.T
Hệ quả là tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) toàn hệ thống vọt lên mức 115%, tăng mạnh so với mức 109% (cuối năm 2025), và 106% (cuối năm 2024). Áp lực thanh khoản kéo dài liên tục từ quý 4-2025 đến nay buộc các ngân hàng phải neo lãi suất cao, chấp nhận tăng chi phí đầu vào để bảo vệ dòng vốn của mình.
Sự lệch pha kỳ hạn dòng tiền do các ngân hàng chủ yếu huy động vốn kỳ hạn ngắn nhưng lại cho vay trung và dài hạn (đặc biệt dòng vốn vào bất động sản) đã khiến lãi suất khó giảm.
Bên cạnh đó, bối cảnh quốc tế cũng tác động mạnh đến điều hành lãi suất. Việc các ngân hàng trung ương trên thế giới neo cao cũng tác động đến mặt bằng lãi suất huy động trong nước. Các nền kinh tế lớn như Mỹ và châu Âu vẫn giữ lãi suất ở mức cao. Đồng USD mạnh gây áp lực lớn lên tỷ giá và lạm phát nhập khẩu của Việt Nam.
Các chuyên gia lo ngại, nếu Việt Nam hạ lãi suất quá nhanh, chênh lệch lãi suất sẽ khiến dòng tiền dịch chuyển khỏi hệ thống ngân hàng sang các kênh đầu tư khác như ngoại tệ, vàng, gây rủi ro thanh khoản nghiêm trọng.
Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng, mặt bằng lãi suất cao thời gian qua cũng có một số điểm tích cực, như giúp duy trì sự ổn định của đồng Việt Nam (VNĐ) trước làn sóng biến động của đồng USD và các đồng tiền lớn khác, giữ tỷ giá không biến động quá lớn từ đầu năm. Tuy nhiên, dư địa để giảm lãi suất không còn nhiều.
Trước tình thế “tiến thoái lưỡng nan”, các chuyên gia cho rằng không thể chỉ dựa vào một mình chính sách tiền tệ để kéo giảm lãi suất, mà cần một kiến trúc giải pháp toàn diện hơn. Việc quá phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng không chỉ tạo áp lực lên an toàn hệ thống tài chính, mà còn hạn chế khả năng bứt phá của doanh nghiệp trong bối cảnh mới.
Muốn duy trì tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần giảm dần sự lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng và đa dạng hóa các kênh dẫn vốn như: phát triển các kênh dẫn vốn, sớm đưa vào vận hành sàn giao dịch mã hóa, phát triển các sản phẩm mới của TTCK, sớm vận hành trung tâm tài chính quốc tế…
Thực tế, bài toán giảm lãi suất không đơn thuần là một “nút thắt kỹ thuật”, mà là một trục cân bằng phức tạp giữa những mục tiêu chiến lược: ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát, đảm bảo an toàn thanh khoản hệ thống và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua chi phí tài chính cao, nền kinh tế đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và sự khai mở mạnh mẽ của thị trường vốn (trái phiếu, dòng vốn ngoại) trong giai đoạn tiếp theo.
Nguồn SGĐT: https://dttc.sggp.org.vn/giam-lai-suat-dang-tro-thanh-bai-toan-luong-nan-post134743.html










