Giữ gìn tiếng nói, chữ viết đồng bào - Kỳ 1: Thấm ý Đảng bằng tiếng đồng bào

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc”. Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam định hướng đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững. Quán triệt sâu sắc tinh thần đó, thời gian qua, toàn tỉnh Khánh Hòa đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, sáng tạo để bảo tồn, phát huy giá trị ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Từ đó, từng bước bồi đắp "sức mạnh mềm", khơi dậy nguồn lực nội sinh để đồng bào vươn lên. 

Kỳ 1: Thấm ý Đảng bằng tiếng đồng bào

Tại các thôn làng xa xôi của Khánh Hòa, những chủ trương, đường lối của Đảng đã được truyền tải gần gũi, dễ hiểu thông qua nhiều hình thức sinh động bằng chính tiếng nói của đồng bào DTTS. Tiếng mẹ đẻ đã bắc nhịp cầu, góp phần giúp đồng bào thêm tin theo Đảng, nỗ lực vươn lên.

Xem phim lưu động ở thôn làng

“Alo, Alo! Tối nay, được sự nhất trí của chính quyền địa phương, đoàn chiếu phim lưu động của tỉnh sẽ về phục vụ bà con. Kính mời bà con cố gắng thu xếp công việc gia đình, ăn cơm sớm để 7 giờ tối có mặt đông đủ tại nhà văn hóa…” - Từng tiếng Raglai của ông Tạ Yên Sản - Trưởng thôn Trà Nô (xã Phước Hà) phát ra từ chiếc loa điện dội vào vách núi, vang khắp các nẻo đường thôn.

Buổi chiếu phim lưu động tại thôn Trà Nô.

Buổi chiếu phim lưu động tại thôn Trà Nô.

Trưởng thôn Tạ Yên Sản đọc thông báo chiếu phim lưu động.

Trưởng thôn Tạ Yên Sản đọc thông báo chiếu phim lưu động.

Công tác chuẩn bị của Tổ chiếu phim số 1.

Công tác chuẩn bị của Tổ chiếu phim số 1.

Chỉ ít phút, bãi đất trống trước Nhà Văn hóa - Thể thao thôn rộn rã tiếng nói cười. Em Tạ Yên Thị Hương Giang (11 tuổi) hồn nhiên khoe: "Con được xem phim lưu động mấy lần rồi, thích lắm. Tối nay, cả nhà con cùng đi xem". Gác lại việc nhà, bà Trà Văn Thị Quyền hối hả cho con ăn cơm sớm để kịp giờ ra bãi chiếu phim. Với bà Quyền, được nghe tiếng mẹ đẻ giữa không gian chan hòa tình làng không gì thú vị bằng.

Hơn 10 năm đi chiếu phim lưu động, ông Đặng Quang Phúc, kỹ thuật viên Tổ chiếu phim số 1 (Trung tâm Văn hóa tỉnh) cảm nhận rất rõ sự hào hứng của người dân qua từng suất chiếu. “Dù xã hội phát triển, bà con Trà Nô vẫn đến xem phim rất đông, còn nhận ra giọng của người thuyết minh", ông Phúc nói.

Chương trình chiếu phim lưu động cuốn hút cả người lớn và trẻ em.

Chương trình chiếu phim lưu động cuốn hút cả người lớn và trẻ em.

18 giờ 30, ánh sáng từ chiếc máy chiếu hắt lên tấm bạt lớn, mở ra những thước phim sống động. Các hàng ghế dần kín người. Dân làng chăm chú theo dõi câu chuyện về hiệu quả của việc trao sinh kế, hỗ trợ đồng bào vươn lên thoát nghèo, rồi rưng rưng khi xem “Bản di chúc của Bác Hồ” và tràn ngập tự hào lúc xem phim "Những người viết huyền thoại"... Dẫu mạng Internet, điện thoại thông minh đã đến từng hộ dân Trà Nô, nhưng những buổi chiếu phim lưu động vẫn có sức hút kỳ lạ, bởi thanh âm quen thuộc vang lên từ màn ảnh: Tiếng nói của người Raglai.

Phấn khởi ra về sau buổi chiếu, ông Tạ Y Tâm không giấu được niềm vui: "Nghe tiếng Raglai trên phim, tôi thích lắm!". Bà Trần Thị Thanh Cầm chia sẻ: “Tôi thích xem phim tư liệu lịch sử để biết ông cha ta đã kiên cường chiến đấu, hy sinh, giành lại hòa bình, độc lập cho non sông đất nước”.

Nét mặt đầy hào hứng của trẻ em thôn Trà Nô khi xem phim.

Nét mặt đầy hào hứng của trẻ em thôn Trà Nô khi xem phim.

Ông Tạ Yên Sản cho biết: “Trà Nô là thôn miền núi, hiện có gần 290 hộ, hầu hết là đồng bào Raglai. Mỗi khi có đoàn chiếu phim lưu động lên phục vụ, người dân đi xem rất đông. Hiện nay, người dân có thể nghe tiếng Kinh khá tốt, nhưng nếu các chương trình được thuyết minh bằng tiếng Raglai, chắc chắn đồng bào sẽ thích hơn, vì họ có thể hiểu trọn vẹn nội dung”.

Lặng thầm “xây” cây cầu thông tin

Những nụ cười sảng khoái, những cái gật đầu tâm đắc của đồng bào trước màn hình chính là thành công của buổi chiếu phim lưu động. Nhưng để các chủ trương, chính sách thực sự đến với người dân, tỉnh không chỉ phủ sóng mạng lưới thông tin cơ sở mà còn chú trọng phát huy vai trò của những cán bộ người DTTS. Họ là những người đã lặng thầm “xây” cây cầu thông tin nối ý Đảng tới lòng dân thông qua việc chuyển ngữ lời thoại cho từng thước phim, bản tin.

Bà Serang Ha có gần 30 năm gắn bó với công việc chuyển ngữ tiếng Raglai.

Bà Serang Ha có gần 30 năm gắn bó với công việc chuyển ngữ tiếng Raglai.

Gần 30 năm miệt mài "nói" cho đồng bào Raglai, bà Serang Ha (nguyên cán bộ Đài Truyền thanh Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận cũ) không nhớ hết những đêm thức trắng hoàn thành các bản tin chuyển ngữ để kịp giờ phát sóng. Tuy sống trong môi trường ngôn ngữ Raglai nhưng không ít lần bà vẫn phải tra tìm cả trong Kinh thánh Tân ước bằng tiếng Raglai để tìm ra từ sát nghĩa nhất, bởi có nhiều thuật ngữ ít xuất hiện trong đời sống ngôn ngữ hằng ngày.

Những nỗ lực thầm lặng ấy đã được đền đáp xứng đáng. Đợt tuyên truyền về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 vừa qua, bà Ha nhận được nhiều cuộc điện thoại từ xã Khánh Vĩnh gọi, vui mừng khoe đã nhận ra ngay giọng của bà. Có lần, bà lên xã Bắc Khánh Vĩnh chơi, một người vồn vã hỏi: “Nghe giọng chị quen lắm mà nhìn mặt không nhận ra”. Thì ra, họ đã “quen” bà qua… tiếng loa phát thanh tiếng Raglai ở thôn. “Được mọi người nhận ra là sự động viên rất quý với tôi. Tôi cũng biết ơn các cấp đã cho tôi cơ hội được đưa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với người dân theo cách dễ hiểu nhất, động viên đồng bào tích cực lao động sản xuất, xóa đói giảm nghèo”, bà Ha nói.

Quyển tài liệu Tiếng Raglai đã gắn bó với bà Serang Ha nhiều năm.

Quyển tài liệu Tiếng Raglai đã gắn bó với bà Serang Ha nhiều năm.

Cơ duyên đến với công việc chuyển ngữ tiếng Chăm của ông Bá Văn Quyến (di sản viên của Bảo tàng tỉnh) bắt đầu từ khoảng năm 2006. “Hồi trước, Chi hội thanh niên, học sinh, sinh viên thôn Hậu Sanh (xã Phước Hữu) quê tôi thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, nhưng đều dùng tiếng Việt. Tôi tự hỏi, tại sao chương trình của người Chăm lại không dùng tiếng Chăm? Rồi tôi mạnh dạn đề xuất. Lần đầu tiên MC dẫn chương trình “song ngữ”, bà con phấn khởi lắm”, ông Quyến nhớ lại. Sau đó, ông thường xuyên viết lời Chăm cho các chương trình tổ chức ở làng. Một lần, người quen ở Trung tâm Văn hóa tỉnh nhờ ông chuyển ngữ tiếng Chăm cho bộ phim tài liệu ngắn và động viên ông cố gắng.

Để hoàn thành công việc, ông phải tra tìm đủ loại từ điển: Chăm - Việt, Việt - Chăm, Chăm - Pháp…; nói chuyện với nhiều bậc cao niên; nghiên cứu thêm nhiều tài liệu về văn hóa, ngôn ngữ Chăm; đối chiếu với văn bản cổ… Có những kịch bản phim, ông phải cặm cụi cả tháng trời mới hoàn thành và gửi thu âm. Dù vậy, niềm đam mê chuyển ngữ tiếng mẹ đẻ cứ nhân lên, níu ông Quyến gắn bó với công việc “tay trái” này nhiều năm. “Ngôn ngữ là phần hồn của một dân tộc. Muốn bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Chăm, cần bảo tồn, gìn giữ và phát huy cái “phần hồn” đó”, ông Quyến lý giải cho đam mê của mình.

Ông Bá Văn Quyến và ông Châu Linh Thiện trao đổi về việc chuyển ngữ.

Ông Bá Văn Quyến và ông Châu Linh Thiện trao đổi về việc chuyển ngữ.

Ông Bá Văn Quyến và người dẫn đường phát hiện được ký tự Chăm khắc trên đá. 

Ông Bá Văn Quyến và người dẫn đường phát hiện được ký tự Chăm khắc trên đá. 

Ông Bá Văn Quyến nghiên cứu, chuyển ngữ bài hát nhạc lễ của chức sắc Kadhar.

Ông Bá Văn Quyến nghiên cứu, chuyển ngữ bài hát nhạc lễ của chức sắc Kadhar.

Với sự dẫn dắt của ông Quyến, Chi hội thanh niên, học sinh, sinh viên thôn Hậu Sanh đã nhen lên ngọn lửa nhiệt tình giữ gìn ngôn ngữ bản địa, thường xuyên tổ chức các hoạt động sinh hoạt hè, diễn kịch, dẫn chương trình lễ hội Katê bằng tiếng Chăm. Từ cái nôi này, nhiều “tuyên truyền viên" tâm huyết đã xuất hiện, như Nại Thành Thực, Châu Linh Thiện, Đổng Hoàng Mỹ Trân, Phú Lưu Như Ái...

Sát cánh cùng ông Quyến với tư cách Chi hội phó, ông Thiện cũng luôn mong mỏi gìn giữ tiếng mẹ đẻ. Ban ngày làm công nhân điện, đêm về, ông Thiện say sưa chuyển ngữ tiếng Chăm cho từng trang kịch bản. Đến nay, ông Thiện đã chuyển ngữ được hơn 40 đoạn phim tuyên truyền, viết kịch bản lễ hội và trở thành MC tiếng Chăm quen thuộc tại nhiều sự kiện. "Được nói bằng tiếng mẹ đẻ, tôi vô cùng tự hào. Theo tôi, ngôn ngữ mẹ đẻ còn thì văn hóa còn, mà văn hóa còn thì dân tộc đó còn trường tồn”, ông Thiện khẳng định.

Ông Quyến và cộng sự thực hiện ghi hình để số hóa bài hát nhạc lễ của người Chăm.

Ông Quyến và cộng sự thực hiện ghi hình để số hóa bài hát nhạc lễ của người Chăm.

Bà Phạm Thị Luận - Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa tỉnh cho biết, việc đưa tiếng của đồng bào DTTS, như tiếng Chăm, tiếng Raglai vào các chương trình chiếu bóng lưu động và tuyên truyền ở cơ sở đã góp phần rút ngắn khoảng cách giữa thông tin tuyên truyền với người dân. Khi chủ trương, chính sách hoặc thông điệp tuyên truyền được chuyển tải bằng chính ngôn ngữ mà người dân sử dụng hằng ngày, mức độ gần gũi, dễ hiểu và dễ ghi nhớ sẽ cao hơn, nhất là đối với một bộ phận người lớn tuổi hoặc người dân ở vùng sâu, vùng xa. Khi đó, thông tin không chỉ là “nghe được” mà còn là “hiểu đúng, nhớ lâu” và có thể vận dụng vào đời sống.

Để có được những thước phim, bản tin bằng tiếng mẹ đẻ, theo bà Luận, không thể thiếu vai trò của đội ngũ biên dịch, chuyển ngữ, thuyết minh, lồng tiếng dân tộc. Họ chính là những “cầu nối” rất quan trọng giữa chính sách với cộng đồng. Công việc của họ không đơn giản là dịch từng câu, từng chữ từ tiếng Việt sang tiếng DTTS, mà còn phải hiểu nội dung chính sách, cách tư duy, cách nói chuyện, phong tục, tập quán và tâm lý tiếp nhận của cộng đồng, từ đó diễn đạt gần gũi mà vẫn giữ đúng nội dung và tinh thần của thông tin. Đây là công việc đòi hỏi năng lực ngôn ngữ, kiến thức văn hóa, trách nhiệm nghề nghiệp và sự tinh tế trong giao tiếp cộng đồng. Đáng trân trọng là nhiều cộng tác viên tại cơ sở đã làm việc bằng tình yêu với ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc mình. Những đóng góp rất âm thầm ấy mang lại giá trị rất lớn.

Ông Quyến được vợ chuẩn bị trang phục tham gia dẫn chương trình bằng tiếng Chăm tại thôn.

Ông Quyến được vợ chuẩn bị trang phục tham gia dẫn chương trình bằng tiếng Chăm tại thôn.

Ông Quyến thực hiện chuyển ngữ một kịch bản phim.

Ông Quyến thực hiện chuyển ngữ một kịch bản phim.

Có thể thấy, khi chủ trương của Đảng tìm được sự đồng điệu từ những "hạt nhân" ở cơ sở, mặt trận tư tưởng - văn hóa vùng đồng bào DTTS càng được củng cố. Để mạch nguồn ấy thực sự chảy mãi, ngôn ngữ của đồng bào DTTS không chỉ hiện diện qua lời nói hằng ngày mà còn cần được bồi đắp, duy trì và phát triển bằng chữ viết.

NGUYỄN VŨ - MINH TÂM

Kỳ 2:  Nét chữ dân tộc hòa nhịp thời đại số

Nguồn Khánh Hòa: http://www.baokhanhhoa.vn/chinh-tri/giai-bua-liem-vang/202609/giu-gin-tieng-noi-chu-viet-dong-bao-ky-1-tham-y-dang-bang-tieng-dong-bao-6991fe3/