Giữ gìn tiếng nói, chữ viết đồng bào - Kỳ 2: Nét chữ dân tộc hòa nhịp thời đại số

Nếu tiếng nói là nhịp cầu đưa chủ trương, chính sách nhanh đến với đồng bào, thì chữ viết góp phần lưu giữ bản sắc và những giá trị văn hóa của dân tộc. Tại Khánh Hòa, hành trình gìn giữ những con chữ của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đang được bền bỉ thực hiện tại nhiều lớp học và được chắp cánh bởi công nghệ số, định vị không gian sinh tồn mới giữa kỷ nguyên hội nhập.

Nắn nót luyện nét chữ 

Buổi học đầu tiên của năm học mới ở Trường Tiểu học Phước Hữu (xã Phước Hữu) bắt đầu trong tiếng đọc bài râm ran suốt dãy hành lang. Tại lớp 2A, cô Hán Thị Kim Anh vừa chỉ vào từng chữ cái Chăm, vừa đọc mẫu. Cả lớp đồng thanh lặp lại: "Ka, kha, cà, khà, cắc, pắc...”. Bảng chữ cái đi vào tâm trí các em trong giai điệu bổng - trầm, ngắt - mở thân thương của tiếng mẹ đẻ.

Giờ dạy tiếng Chăm tại Trường Tiểu học Phước Hữu.

Giờ dạy tiếng Chăm tại Trường Tiểu học Phước Hữu.

Đến phần tập ghép vần, cô viết lên bảng một phụ âm cái, rồi nối thêm các nét chữ phụ phía trên bên phải, kéo dài nét kết từ, tạo thành một từ có nghĩa “cái cân”. Mấy chục học sinh chăm chú nhìn cô viết mẫu, rồi cặm cụi tô vào vở. Nhìn hình ảnh trên màn hình tivi của lớp, nhiều em cũng đoán ra nghĩa của từ, nhưng để viết đúng nét uốn lượn của con chữ vẫn cần sự tập trung cao độ.

Cô Hán Thị Kim Anh hướng dẫn học sinh học chữ Chăm.

Cô Hán Thị Kim Anh hướng dẫn học sinh học chữ Chăm.

Gắn bó với nghề từ năm 2007, cô Kim Anh thấu hiểu sự nhọc nhằn khi truyền đạt ngôn ngữ nghìn năm tuổi này. Bảng chữ cái tiếng Chăm trong chương trình tiểu học có 37 chữ cái. Chữ Chăm viết từ trái sang phải. Phần thân chữ được “treo” ngay dưới dòng kẻ. Các chân chữ (dấu chữ phụ) có thể đặt ở trước, sau, trên hoặc dưới phụ âm cái (chữ mẹ) để tạo thành vần hoàn chỉnh… “Học sinh lớp 1 như tờ giấy trắng. Ở nhà, các em thường nói chuyện bằng tiếng Chăm nên đến trường, việc nghe, nói tiếng Chăm không khó, nhưng để viết được chữ Chăm không hề dễ. Tôi phải uốn nắn, hướng dẫn tỉ mỉ từng nét như tập vẽ vậy", cô Kim Anh bộc bạch.

Giờ luyện chữ Chăm của học sinh Trường Tiểu học Phước Hữu.

Giờ luyện chữ Chăm của học sinh Trường Tiểu học Phước Hữu.

Sự phức tạp của ngôn ngữ cổ xưa ấy nằm ở chỗ nếu chỉ ghép âm chệch một chút, ngữ nghĩa thay đổi hẳn. Lớp học có lúc rộn tiếng cười khi một học sinh phát âm nhầm từ "áo ngắn tay" thành "chân cụt". Nhưng chính những kỷ niệm ngộ nghĩnh ấy đã nuôi dưỡng tình yêu tiếng mẹ đẻ trong các em. Em Đạt Thanh Tú (lớp 4A) tâm sự: "Ban đầu học tiếng Chăm khó lắm, nhưng cô bảo đây là tiếng của ông bà mình, nên em cố gắng học thật giỏi".  

Nhìn học sinh hào hứng lật từng trang sách còn thơm mùi giấy mới, xem những hình ảnh sinh động chiếu trên màn hình, cô Kim Anh không khỏi bồi hồi. Cách đây 7-8 năm, cô vẫn thường thức đêm vẽ từng bức tranh, cắt từng mô hình để minh họa cho học sinh hiểu nghĩa của từ… Gần 20 năm qua, tình yêu với tiếng mẹ đẻ đã thôi thúc cô nỗ lực dạy nhiều thế hệ học sinh biết đọc, biết viết tiếng Chăm. Điều đáng tự hào là trong danh sách thành viên Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa môn Tiếng Chăm được in trên sách giáo khoa của Bộ Giáo dục và Đào tạo có tên cô Hán Thị Kim Anh.

Cô giáo Trường Tiểu học Phước Hữu dạy học sinh ghép vần tiếng Chăm.

Cô giáo Trường Tiểu học Phước Hữu dạy học sinh ghép vần tiếng Chăm.

Tâm huyết của những người “lái đò” đã “truyền lửa” cho thế hệ măng non. Em Lưu Hoàng Bảo Linh (lớp 4C) cho biết: “Ban đầu con thấy học chữ Chăm khó lắm, nhưng được cô dạy, bây giờ con viết được rồi. Chữ Chăm rất đẹp”. Em Trương Thị Tường Vi (lớp 2B) hồn nhiên: “Con rất thích cô dạy chữ Chăm”. Còn với em Lưu Simha (lớp 2B), kết quả những ngày say mê luyện chữ đã “đơm hoa” bằng giải nhất khối 1 cuộc viết chữ Chăm của trường năm học vừa qua.

Cô Hán Thị Kim Anh hướng dẫn học sinh đọc chữ Chăm.

Cô Hán Thị Kim Anh hướng dẫn học sinh đọc chữ Chăm.

Cô Hán Thị Kim Anh tới nhà hướng dẫn gia đình kèm con học tiếng Chăm.

Cô Hán Thị Kim Anh tới nhà hướng dẫn gia đình kèm con học tiếng Chăm.

Cô Bá Thị Huyền - Phó Hiệu trưởng nhà trường cho biết, trường bố trí riêng 2 trong số 27 giáo viên để chuyên trách dạy môn học này. Các lớp học đều được trang bị tivi, bảng chữ cái tiếng Chăm. Ngoài 576 học sinh người Chăm, 5 em người Kinh cũng tích cực tham gia học tiếng Chăm, đưa tỷ lệ học sinh toàn trường tiếp cận tiếng Chăm đạt 100%. "Việc dạy tiếng Chăm mang lại hiệu quả thiết thực. Giáo viên dùng tiếng Chăm giải nghĩa các từ tiếng Việt khó, giúp học sinh tiếp cận song song 2 ngôn ngữ và thêm yêu văn hóa quê hương”, cô Huyền tự hào nói.

Bà Lưu Thị Thái Thanh kèm con luyện chữ Chăm tại nhà.

Bà Lưu Thị Thái Thanh kèm con luyện chữ Chăm tại nhà.

Một em nhỏ thôn Thành Đức (xã Phước Hữu) luyện chữ Chăm tại nhà.

Một em nhỏ thôn Thành Đức (xã Phước Hữu) luyện chữ Chăm tại nhà.

Tình yêu ấy đã lan tỏa về từng nếp nhà. Bà Lưu Thị Thái Thanh (thôn Thành Đức, xã Phước Hữu) phấn khởi nói: “2 con của tôi đang học tiểu học. Các cháu được học cả tiếng Việt và tiếng Chăm, không lo mai một văn hóa". Ông Bá Bình Yên (60 tuổi, cha của bà Thanh) đánh giá, việc đưa tiếng Chăm vào trường học là chủ trương rất đúng đắn. Về hưu, ông thường xuyên hướng dẫn các cháu học tiếng mẹ đẻ; ông cũng theo học tiếng Chăm cổ do Ban phong tục đền Pô Inâ Nâgar tổ chức. "Giữ lấy tiếng nói của ông bà là giữ lấy gốc gác", ông khẳng định.

Ông Bá Bình Yên hướng dẫn các cháu học chữ Chăm.

Ông Bá Bình Yên hướng dẫn các cháu học chữ Chăm.

Cùng chung khát vọng níu giữ bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS, những con chữ Raglai cũng được nhẫn nại “gieo” tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Phước Đại (xã Bác Ái Đông).

Giờ học tiếng Raglai tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Phước Đại (Ảnh nhà trường cung cấp).

Giờ học tiếng Raglai tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Phước Đại (Ảnh nhà trường cung cấp).

Khác với chữ Chăm, chữ Raglai sử dụng hệ thống chữ La-tinh và không có dấu thanh. Thầy Ca Dá Sơn, người vinh dự là thành viên Ban xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông tiếng Raglai của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ năm 2025 cho biết, do không có dấu thanh, học sinh lớp 1 rất dễ nhầm lẫn giữa cách phát âm tiếng Việt và tiếng Raglai khi cùng sử dụng một con chữ hoặc một âm. Điều này đòi hỏi các em phải luyện tập thường xuyên. Bên cạnh đó, tài liệu cho học sinh chưa được đầy đủ; đồ dùng dạy học còn phải tận dụng từ môn Tiếng Việt...

Tuy vậy, phần thưởng mang lại sau những giờ học rất xứng đáng. “Điều khiến chúng tôi vui nhất là sự thay đổi của các em qua từng tiết học. Có em ban đầu rụt rè, chưa mạnh dạn đọc, viết, nhưng sau quá trình học đã nhận biết được mặt chữ, đọc được những từ quen thuộc và tự tin hơn", thầy Ca Dá Sơn chia sẻ.

Giờ luyện chữ Raglai của học sinh Trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Phước Đại (Ảnh nhà trường cung cấp).

Giờ luyện chữ Raglai của học sinh Trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Phước Đại (Ảnh nhà trường cung cấp).

Thành quả ấy không chỉ ở nỗ lực của từng giáo viên, mà còn là tâm huyết chung của cả tập thể. Theo thầy Phan Ngọc Còi - Hiệu trưởng nhà trường, từ năm học 2021 - 2022, trường bắt đầu dạy thực nghiệm tiếng Raglai cho học sinh lớp 1 và triển khai dạy cho lớp 2 từ năm học 2022 - 2023. Năm học 2026 - 2027, trường có 9 lớp với hơn 150 em học tiếng Raglai. Giáo viên đứng lớp đều đã được đào tạo và có chứng chỉ dạy tiếng Raglai. Chương trình được bố trí rất khoa học: Lớp 1 bắt đầu học từ học kỳ II sau khi các em đã biết đọc, biết viết tiếng Việt; lớp 2 được sắp xếp học từ tuần học thứ tư. Nội dung dạy có một số điều chỉnh để bám sát Thông tư số 14, ngày 18-3-2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Raglai cấp tiểu học.

Đặc biệt, để bài giảng gần gũi với học sinh, các thầy cô đã tăng cường sử dụng tranh ảnh, đồ dùng quen thuộc gắn liền với đời sống để minh họa. Ngoài trình chiếu lên màn hình tivi, giáo viên còn ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để biến các nội dung dưới dạng chữ thành những video sinh động, tạo sự hào hứng cho học sinh. “Đáng mừng hơn, việc dạy tiếng Raglai đều được các phụ huynh đồng thuận. Nhiều người bày tỏ sự tự hào vì tiếng mẹ đẻ của dân tộc mình không chỉ để giao tiếp mà còn được gìn giữ, phát huy thông qua việc dạy chữ. Sự đồng thuận của phụ huynh cũng là động lực để nhà trường tiếp tục duy trì, nâng cao chất lượng dạy tiếng Raglai", thầy Phan Ngọc Còi chia sẻ.

Học sinh Trường Tiểu học Phước Hữu trong giờ học môn Tiếng Chăm.

Học sinh Trường Tiểu học Phước Hữu trong giờ học môn Tiếng Chăm.

Không chỉ tại xã Phước Hữu, Bác Ái Đông, nhiều trường học khác ở Khánh Hòa cũng đang gieo mầm ngôn ngữ của đồng bào. Theo báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo, năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 23 trường tổ chức dạy học tiếng Chăm cấp tiểu học, với 296 lớp, 9.000 học sinh. Việc đưa tiếng Raglai vào dạy thí điểm theo chủ trương của Tỉnh ủy, UBND tỉnh cũng đang được triển khai bài bản tại 20 trường, với 88 lớp, gần 2.000 học sinh.

Đưa ngôn ngữ của đồng bào lên môi trường số

Dù việc gìn giữ tiếng của đồng bào DTTS trong trường học có nhiều tín hiệu tích cực, nhưng kho tàng văn tự lưu truyền trong dân gian vẫn đang phải đối mặt với sự tàn phá của thời gian.

Ông Đổng Thành Danh vệ sinh một thư tịch cổ trước khi scan.

Ông Đổng Thành Danh vệ sinh một thư tịch cổ trước khi scan.

Nhiều thư tịch cổ của người Chăm đã bị hư hại do thời gian.

Nhiều thư tịch cổ của người Chăm đã bị hư hại do thời gian.

Ông Đổng Thành Danh, người nghiên cứu văn hóa Chăm ở phường Phan Rang kể, năm 2017 - 2018, khi đang làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm (cũ), ông được giao thống kê, sưu tầm thư tịch cổ của người Chăm. Khi mở những chiếc giỏ đan, hộp gỗ đựng thư tịch cổ tại nhà dân, ông xót xa chứng kiến nhiều xấp giấy đã mục ruỗng do tác động của thời tiết, côn trùng; nhiều tờ đã rã thành bụi mịn. Số lượng thư tịch cổ viết trên lá buông vô cùng quý giá mà ông tiếp cận được chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nhạc lễ cũng đứng trước nguy cơ đứt gãy. Từ tư liệu của tiền bối và thực tế điền dã, ông nhận thấy, một bài hát lễ ngày xưa vốn kéo dài từ 15 phút đến gần 30 phút, nhưng trong các nghi lễ hiện nay, các chức sắc chỉ trình bày rút gọn từ 3-5 phút, có khi còn 1-2 phút. Đáng lo hơn, trong số 3 bậc cao niên có thể trình bày toàn diện bài hát lễ mà nhóm của ông từng tiếp cận giai đoạn 2019 - 2022, đến nay, 1 người đã mất, 1 người già yếu không thể cất giọng.

Nhóm nghiên cứu của ông Danh thực hiện phục hồi và số hóa thư tịch của người Chăm.

Nhóm nghiên cứu của ông Danh thực hiện phục hồi và số hóa thư tịch của người Chăm.

Thực trạng này đã thôi thúc các cơ quan, tổ chức, cá nhân khẩn trương triển khai các giải pháp bảo tồn dài hơi. Nổi bật là việc tỉnh thực hiện Dự án Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các DTTS gắn với phát triển du lịch thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Cuối tháng 6 vừa qua, Nền tảng số di sản văn hóa Chăm Khánh Hòa và triển lãm trực tuyến được tỉnh chính thức ra mắt tại địa chỉ www.vanhoacham.khanhhoa.gov.vn. Các cơ quan văn hóa, lưu trữ cũng đang từng bước tu bổ, bồi nền và scan hàng loạt tài liệu, thư tịch cổ của đồng bào DTTS để cứu vãn di sản văn hóa khỏi sự tàn phá của thời gian.

Ông Danh gặp các bậc tiền bối để tìm hiểu thêm về thư tịch cổ của người Chăm.

Ông Danh gặp các bậc tiền bối để tìm hiểu thêm về thư tịch cổ của người Chăm.

Song hành cùng cơ quan chức năng, các nhóm nghiên cứu cũng gia tăng nỗ lực. Từ năm 2020 đến nay, ông Danh và cộng sự đã tiếp cận 1.500 văn bản thư tịch cổ, vệ sinh và số hóa khoảng 200-500 văn bản, thu về hơn 3.000 file hình ảnh chất lượng cao. Nhóm còn tặng nhiều tủ, hộp chống ẩm để người dân cất giữ thư tịch cổ. Đồng thời, nhóm lặn lội đi gặp nhiều vị chức sắc, đến những lễ hội đặc trưng của người Chăm để ghi âm, ghi hình, đăng tải 100 bài nhạc lễ, vài chục bài Ariya (trường ca độc đáo của người Chăm) lên nền tảng Youtube. “Chúng tôi hy vọng đây là “giáo trình mở” giúp những người yêu văn hóa Chăm có thể học lời ca, điệu nhạc chuẩn xác từ các bậc tiền bối”, ông Danh nói.

Việc số hóa các thư tịch cổ của người Chăm phải thực hiện rất cẩn thận, tỉ mỉ.

Việc số hóa các thư tịch cổ của người Chăm phải thực hiện rất cẩn thận, tỉ mỉ.

Dẫu vậy, để ngôn ngữ của đồng bào DTTS tồn tại lâu dài vẫn cần chiến lược mang tính hệ thống. Ông Danh đề xuất tỉnh bảo tồn các thư tịch cổ ngay từ gốc bằng cách hướng dẫn, cung cấp thiết bị để người dân bảo quản; dịch thuật, thống kê, lập danh mục và số hóa; đồng thời, sớm ký âm, biên soạn giáo trình chính thức, mở các lớp truyền dạy nhạc lễ của người Chăm. Đặc biệt, theo ông, dù có nhiều người, nhiều chương trình, kế hoạch được triển khai, nếu bản thân cộng đồng, chủ sở hữu thư tịch cổ, người thực hành nhạc lễ không tự ý thức bảo tồn thì di sản không thể “sống” lâu bền.

Ông Danh và cộng sự ghi hình một chức sắc Mâduen biểu diễn trống Baranâng.

Ông Danh và cộng sự ghi hình một chức sắc Mâduen biểu diễn trống Baranâng.

Chia sẻ khát vọng đưa ngôn ngữ DTTS thực sự hòa nhịp cùng đời sống đương đại, ông Nguyễn Khắc Duy - Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa tỉnh cho biết, bên cạnh công tác bảo tồn tài liệu, dạy tiếng DTTS trong trường học, cần khuyến khích đồng bào diễn xướng, dẫn chương trình… bằng tiếng DTTS tại các liên hoan, hội diễn nghệ thuật quần chúng. Đặc biệt, cần khuyến khích người trẻ tạo các video ngắn, podcast, vlog giới thiệu về lễ hội, ẩm thực… bằng tiếng DTTS kèm phụ đề. Trung tâm dự kiến sẽ từng bước xây dựng kho dữ liệu âm thanh về cách phát âm, kể chuyện, hát dân ca bằng tiếng Chăm, tiếng Raglai. “Một ngôn ngữ muốn được bảo tồn bền vững thì quan trọng nhất là các thế hệ kế tiếp phải muốn nói, muốn học và tự hào khi sử dụng”, ông Duy đúc kết.

Với niềm tự hào và ý thức tiếp nối ấy, việc bảo tồn ngôn ngữ không đơn thuần là nỗ lực cất giữ quá khứ, mà là hành trình khẳng định bản sắc và đánh thức lòng tự tôn dân tộc. Thực tế, rễ có sâu, cây mới vững; cội nguồn văn hóa được nâng niu mới thực sự hóa thành sức mạnh nội sinh để đồng bào tự tin bước về phía trước.

NGUYỄN VŨ - MINH TÂM

Kỳ 3: Phát huy giá trị ngôn ngữ, khơi dậy nguồn lực nội sinh

Nguồn Khánh Hòa: http://www.baokhanhhoa.vn/chinh-tri/giai-bua-liem-vang/202609/giu-gin-tieng-noi-chu-viet-dong-bao-ky-2-net-chu-dan-toc-hoa-nhip-thoi-dai-so-6cd29b9/