Giữ mạch nguồn văn hóa dưới mái đền Bảo Ninh
Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia Đền Bảo Ninh, xã Hải Hậu (Ninh Bình) là nơi lưu giữ dấu tích khai hoang lấn biển, truyền thống đấu tranh cách mạng và đời sống tín ngưỡng cộng đồng. Ngôi đền được khởi dựng năm Tự Đức thứ 20 (1867), sau đó được xây dựng lại vào năm Duy Tân thứ 3 (1909). Nhờ sự quan tâm của các cấp, các ngành và sự chung tay của Ban quản lý, người dân, Đền từng bước được tu bổ, tiếp tục lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa của địa phương.

Khuôn viên rộng hơn 3.600 m² của Đền Bảo Ninh được chỉnh trang, tu bổ bề thế, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên làng quê. Ảnh: Viết Dư
Trầm tích lịch sử nơi cửa biển
Đền Bảo Ninh nằm trên khuôn viên rộng hơn 3.600 m², quay về hướng Tây, gồm 6 tòa với 30 gian lớn, nhỏ. Những cây lưu niên quanh đền tạo bóng mát, giữ vẻ trầm mặc cho không gian di tích.

Khuôn viên bề thế, khang trang của Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia Đền Bảo Ninh (xã Hải Hậu). Ảnh: Viết Dư
Phía trước Đền là hệ thống cửa và trụ biểu trang trí các đề tài nghê chầu, hổ phù, tứ linh, tứ quý cùng câu đối chữ Hán. Khu thờ tự chính có 15 gian, bố cục theo lối “tiền chữ Nhất, hậu chữ Công”. Tòa chữ Nhất nằm ở vị trí trung tâm, đối diện cửa ra vào; bên trong có các vì kèo uốn vành mai đặt trên hệ thống cột gạch vuông. Các đường chỉ nổi chạy quanh thân cột tạo nét mềm mại cho kết cấu. Phần mái, bờ nóc, đầu đao và kìm nóc được trang trí họa tiết lá lật cách điệu, đôi rồng mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
Liền sau tòa chữ Nhất là tòa chữ Công gồm 10 gian, chia thành tiền đường 5 gian, trung đường 3 gian và hậu đường 2 gian. Bên trong tòa chữ công không thiết kế các vì kèo mà xây kiểu vòm cuốn, bên ngoài lợp ngói nam. Hai bên khu thờ tự chính có Nhà thờ Tổ và Phủ thờ Mẫu, cùng thiết kế theo kiểu chữ Đinh. Các hạng mục được bố trí liền mạch, tạo nên quần thể kiến trúc truyền thống.
Bên cạnh giá trị kiến trúc, đền còn lưu giữ nhiều đồ thờ như ngai, khám, nhang án cùng các hiện vật có nghệ thuật chạm khắc, sơn thếp công phu. Đặc biệt, 6 đạo sắc phong của triều Nguyễn ban tặng Đức Thánh và các vị tôn thần là nguồn tư liệu góp phần tìm hiểu lịch sử thờ tự tại di tích.

Tượng thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn ở vị trí trung tâm khu thờ tự chính Đền Bảo Ninh. Ảnh: Viết Dư
Trong không gian thờ tự, tượng Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn ở vị trí trung tâm. Cùng với Đức Thánh Trần, đền Bảo Ninh phối thờ Tứ Tổ khai sáng gồm Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập; Cửu tộc khai cơ gồm các dòng họ Lại, Nguyễn, Lê, Đỗ, Bùi, Phan, Đoàn, Trần, Vũ; cùng Bát Hải Long Vương, Vân Hương Thánh Mẫu và Tiến sĩ, Dinh Điền sứ Đỗ Tông Phát. Hệ thống thờ tự gắn với những người có công khai phá, lập làng trên vùng đất bãi bồi ven biển, thể hiện truyền thống tri ân tiền nhân của cộng đồng cư dân Hải Hậu.
Không chỉ gắn với đời sống tín ngưỡng, Đền Bảo Ninh còn là cơ sở hoạt động cách mạng trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Theo các tư liệu lịch sử tại di tích, ngày 16/10/1949, Tỉnh ủy và Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh tổ chức hội nghị tại Đền để triển khai nhiệm vụ lãnh đạo lực lượng chiến đấu, chống các cuộc càn quét của địch. Cuối tháng 10/1949, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hải Hậu họp tại đây, bàn việc phân công lực lượng, bảo vệ nhân dân sơ tán và bố trí cơ sở ở lại bám đất, bám dân tại vùng bị chiếm đóng.

Các em học sinh tìm hiểu về lịch sử di tích tại khu vực tháp chuông Đền Bảo Ninh. Ảnh: Viết Dư
Đầu năm 1952, sau trận tập kích đồn Văn Đàn, đồng chí Trần Lẫm, Ủy viên Liên khu ủy III, cùng lãnh đạo Huyện ủy và cán bộ quân sự họp tại Đền, bàn kế hoạch chặn đánh quân tiếp viện. Được nhân dân thôn Chợ Hàng giúp đỡ, Trung đoàn 52 thuộc Đại đoàn 320 vượt sông, tổ chức phục kích tại khu vực Cầu Đôi. Theo tư liệu, trưa 16/1/1952, quân địch từ Bùi Chu kéo về bằng 7 xe cơ giới; lực lượng phục kích tiêu diệt một đại đội lính Âu Phi, phá hủy 5 xe. Trận đánh góp phần làm gián đoạn hoạt động chi viện cho đồn Văn Đàn, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân địa phương.
Tháng 8/1953, khi quân Pháp quay lại chiếm đóng khu vực Đông Biên, Đền tiếp tục là nơi tập trung dân quân, du kích trực chiến, chống các cuộc càn quét. Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, di tích còn được sử dụng làm nơi mở lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng và tổ chức kết nạp đảng viên mới.
Những giá trị lịch sử, văn hóa được lưu giữ tại Đền Bảo Ninh tiếp tục hiện diện trong đời sống cộng đồng qua lễ hội truyền thống. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, mùa hội năm nay có sự thay đổi về thời gian tổ chức chính hội, từ trung tuần tháng 3 âm lịch sang ngày 20 tháng 8 âm lịch, dịp kỵ Đức Thánh Trần. Đại lễ hội được tổ chức định kỳ 3 năm một lần, theo chu kỳ các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

Nghi thức rước kiệu - nét đẹp văn hóa gắn kết cộng đồng tại lễ hội truyền thống Đền Bảo Ninh.
Tại vùng đất ven biển có đông đồng bào Công giáo, hội đền Bảo Ninh còn là không gian sinh hoạt chung của cộng đồng. Bà con giáo dân cùng tham gia rước kiệu, phục vụ khánh tiết và dự lễ cầu siêu tri ân các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống quanh bốt Văn Đàn năm xưa. Bà Nguyễn Thị Lợi, Hội trưởng Hội Kèn đồng Giáo họ Giáp Nội chia sẻ: “Việc tham gia đoàn rước tại lễ hội Đền Bảo Ninh thể hiện tình cảm, trách nhiệm của bà con giáo dân đối với quê hương và cộng đồng. Chúng tôi luôn ý thức việc góp sức vào các hoạt động chung của địa phương là cách gìn giữ tình đoàn kết giữa các tôn giáo, cùng phát huy những giá trị văn hóa truyền thống và tưởng nhớ công lao của các bậc tiền nhân, những người đã hi sinh vì quê hương, đất nước”.
Trách nhiệm với di sản
Gắn bó với Đền Bảo Ninh suốt 9 năm qua, Nghệ nhân Ưu tú Vũ Thanh Bình đảm nhiệm vai trò thủ nhang dành nhiều tâm huyết cho việc gìn giữ di tích và duy trì các thực hành tín ngưỡng truyền thống. Xuất thân trong gia đình giàu truyền thống cách mạng, ông còn được kế thừa tri thức về thực hành tín ngưỡng dân gian qua bốn thế hệ. Dòng họ ông có cụ tổ Vũ Duy Hòa, An Phủ sứ, Tiến sĩ triều Lê, có công khai khẩn vùng đông Hải Hậu. Năm 2022, ông được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú.

Nghệ nhân Ưu tú Vũ Thanh Bình kiểm tra, bảo quản các đạo sắc phong triều Nguyễn được lưu giữ tại Đền Bảo Ninh. Ảnh: Viết Dư
Khi gắn bó với ngôi đền, trước tình trạng nhiều hạng mục xuống cấp theo thời gian, ông Bình cùng Ban quản lý di tích vận động nhân dân và con em xa quê đóng góp kinh phí tu bổ, tôn tạo. Từ năm 2017 đến nay, bằng nguồn lực xã hội hóa, gần 30 tỷ đồng đã được sử dụng để xây dựng, tu bổ tháp chuông, hồ bán nguyệt, cổng chào, đường dẫn và tường bao, góp phần cải thiện cảnh quan và bảo vệ di tích.
Trong công tác tu bổ, ông Bình cùng Ban quản lý di tích phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao, Bảo tàng tỉnh phiên âm, dịch nghĩa văn bia, tư liệu Hán Nôm và lập hồ sơ lưu trữ. Các hạng mục tu bổ được triển khai theo quy định, có sự phối hợp của chính quyền địa phương, ngành Văn hóa và sự chấp thuận của các cơ quan có thẩm quyền. Việc ghi chép, lưu giữ tư liệu và xem xét từng cấu kiện kiến trúc góp phần bảo tồn những dấu tích lịch sử của ngôi đền.
Với Nghệ nhân Ưu tú Vũ Thanh Bình, việc tu bổ Đền Bảo Ninh phải đi đôi với gìn giữ nếp thờ tự và thực hành tín ngưỡng đúng truyền thống. Ông chú trọng duy trì các nghi lễ, phong tục gắn với di tích, đồng thời nhắc nhở người tham gia thực hành tín ngưỡng tránh những biểu hiện lệch chuẩn, làm ảnh hưởng đến nét đẹp văn hóa dân gian.
Trên cương vị Chủ tịch Hội Bảo vệ và Phát huy di sản thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt Hải Hậu, ông thường xuyên quan tâm truyền dạy và thực hành tín ngưỡng theo những chuẩn mực truyền thống. Ông Bình thẳng thắn chia sẻ: “Bản thân di sản tín ngưỡng truyền thống vốn đã rất mực trang nghiêm và chuẩn mực. Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở nhiều nơi đang xuất hiện xu hướng thương mại hóa, sân khấu hóa. Âm nhạc bị pha tạp, lai căng, động tác múa sai lệch lề lối, lễ vật phô trương hình thức, thậm chí có cơ sở không liên quan cũng mẫu hóa làm méo mó bản chất tốt đẹp ban đầu. Chúng tôi luôn nhắc nhở các thanh đồng, đệ tử trẻ phải học hỏi kỹ lề lối, trau dồi tâm đức thiện lương và thực hành đúng tinh thần phụng sự văn hóa, đạo pháp và dân tộc”.
Theo đuổi việc bảo tồn di sản, Nghệ nhân Ưu tú Vũ Thanh Bình còn chủ động hiến tặng 38 hiện vật, trang phục thực hành tín ngưỡng cho Bảo tàng tỉnh Ninh Bình, qua đó phục vụ công tác trưng bày, nghiên cứu và giáo dục cộng đồng. Tại địa phương, Hội Bảo vệ và Phát huy di sản thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt Hải Hậu duy trì Câu lạc bộ Hát văn và Câu lạc bộ Hán Nôm, tạo điều kiện thực hành, trao truyền và tìm hiểu các giá trị văn hóa truyền thống. Bên cạnh đó, Chi hội phối hợp với các viện nghiên cứu tổ chức tọa đàm khoa học, tạo cơ hội để những người thực hành tín ngưỡng, giới nghiên cứu và cộng đồng trao đổi kiến thức, chia sẻ kinh nghiệm bảo tồn, phát huy di sản.
Đồng chí Nguyễn Văn Ban, Phó Chủ tịch UBND xã Hải Hậu cho biết: “Địa phương xác định bảo tồn, phát huy giá trị Đền Bảo Ninh là trách nhiệm chung của chính quyền và cộng đồng. Bên cạnh tăng cường quản lý, bảo vệ di tích, xã chú trọng phát huy vai trò của những người tâm huyết với di sản. Nghệ nhân Ưu tú Vũ Thanh Bình đã có nhiều đóng góp trong gìn giữ nếp thờ tự, thực hành tín ngưỡng đúng truyền thống và lan tỏa ý thức bảo vệ di sản trong nhân dân. Các hoạt động thiện nguyện như đỡ đầu trẻ mồ côi, hỗ trợ người khuyết tật do Hội Bảo vệ và Phát huy di sản thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt Hải Hậu triển khai góp phần phát huy tinh thần nhân ái, gắn kết cộng đồng. Đây là những việc làm thiết thực để giá trị văn hóa, tín ngưỡng tiếp tục hiện diện trong đời sống, góp phần gìn giữ di sản Đền Bảo Ninh cho các thế hệ sau”.

Bằng công nhận Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia của Bộ Văn hóa - Thông tin năm 1999, khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa trường tồn của Đền Bảo Ninh. Ảnh: Viết Dư
Từ việc tu bổ công trình, bảo tồn hiện vật đến duy trì các nghi lễ truyền thống, mỗi hoạt động đều đòi hỏi sự thận trọng và trách nhiệm. Thực tế ở Đền Bảo Ninh cho thấy, sự chung tay của người dân là nền tảng để gìn giữ các dấu tích lịch sử. Qua đó, ký ức về công cuộc khai hoang, lập làng, bảo vệ quê hương tiếp tục được lưu truyền, góp phần bồi đắp sự gắn kết cộng đồng trên vùng đất ven biển Hải Hậu./.

