Giữ nếp làng từ những điều bình dị

Theo nhịp sống hiện đại, làng quê hôm nay đã khác nhiều so với vài chục năm trước. Đường làng rộng, nhà cửa khang trang hơn, nhiều vùng quê ở Thái Nguyên đã mang một diện mạo mới. Nhưng ở những ngôi làng ven sông Cầu, sông Đào, nhiều nếp sinh hoạt truyền thống vẫn được người dân gìn giữ trong đời sống hằng ngày.

Gìn giữ giá trị đình làng Phương Độ

Làng Phương Độ, xã Phú Bình, nằm ven con sông Cầu trù phú.

Làng Phương Độ, xã Phú Bình, nằm ven con sông Cầu trù phú.

Dưới bóng đa làng

Con đường dẫn vào làng Phương Độ (xã Phú Bình) giờ đã được đổ bê tông rộng, đẹp. Hai bên đường, những ngôi nhà khang trang mọc lên tạo ra một không gian đô thị hiện đại với nhịp sống tấp nập. Nhưng khi bước qua chiếc cổng làng nép dưới tán hai cây đa cổ thụ, nhịp sống dường như chậm lại. Tiếng gió xào xạc trên tán lá, mái đình thấp thoáng sau những rặng cây và vài cụ già ngồi chuyện trò dưới gốc đa gợi lên cảm giác bình yên hiếm gặp ở một vùng quê đang từng ngày đổi mới.

Người làng Phương Độ kể lại, hai cây đa đã đứng đó từ rất lâu, lâu đến mức chẳng ai còn nhớ chính xác được tuổi đời của cây. Cũng như ngôi đình Phương Độ ở giữa làng, qua bao mưa nắng vẫn là nơi để người dân tìm về mỗi dịp lễ hội, tế lễ hay những cuộc họp của xóm làng.

Theo các tư liệu còn lưu giữ, làng Phương Độ được hình thành từ nhiều thế kỷ trước khi những cư dân đầu tiên đến khai khẩn vùng đất ven sông Cầu. Trải qua thăng trầm thời gian, làng vẫn còn giữ được nhiều dấu tích của một làng Việt cổ, từ mái đình, gốc đa đến những nếp nhà gỗ được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Ở làng Phương Độ hiện nay còn hơn chục ngôi nhà vẫn giữ được lối kiến trúc, hệ thống cột kèo làng quê Bắc Bộ từ vài chục đến gần 100 năm trước. Có thể kể đến như ngôi nhà của gia đình ông Nguyễn Khắc Nghiên, được dựng từ năm 1939 bằng gỗ lim, gỗ xoan. Sau gần một thế kỷ, những hàng cột, vì kèo vẫn chắc chắn. Trên chiếc phản gỗ đã lên màu thời gian là bộ ấm trà quen thuộc, nơi chủ nhà vẫn tiếp khách mỗi ngày, ông Nghiên nhẹ giọng kể: Nhiều người bảo tôi sửa hoặc xây mới sẽ tiện hơn. Nhưng ngôi nhà này là của cha ông để lại. Mình giữ được ngày nào thì con cháu còn biết ngày ấy ông bà đã sống như thế nào.

Những ngôi nhà cổ như của gia đình ông Nghiên không nằm sau hàng rào để du khách đến ngắm nhìn. Trong nhà vẫn có người ở, gian bếp vẫn đỏ lửa mỗi ngày. Có lẽ vì thế, giá trị truyền thống của làng Phương Độ không chỉ nằm ở những ngôi nhà cổ, mà ở cách người dân vẫn sống cùng di sản của mình. Ngôi nhà vẫn có người ở, mái đình vẫn có người chăm nom, còn những lễ tục của làng vẫn được lớp trẻ tiếp nối cùng cha ông mỗi dịp đầu xuân.

Còn đây giếng nước, sân đình

Rời Phương Độ, chúng tôi men theo con đường dọc theo sông Đào để đến làng Cô Dạ, xã Phú Bình. Không gian nơi đây vẫn mang dáng vẻ yên bình của một làng quê Bắc Bộ. Cây đa già tỏa bóng trước đình làng, con đường nhỏ uốn quanh những thửa ruộng xanh và tiếng gà gáy vọng từ những mái nhà thấp khiến nhịp sống dường như chậm lại.

Ở Cô Dạ, đình làng, ngôi chùa trên triền đồi và chiếc giếng cổ vẫn hiện diện như những mốc ký ức của bao thế hệ người dân. Trong câu chuyện của những người cao tuổi, giếng làng luôn được nhắc đến với sự trân trọng đặc biệt. Bao thế hệ người Cô Dạ lớn lên bên chiếc giếng ấy. Những buổi sớm gánh nước, những chiều hè trẻ nhỏ nô đùa bên thành giếng hay nồi xôi, chiếc bánh dày ngày lễ, ngày Tết... đều bắt đầu từ dòng nước trong veo.

Đình làng được coi là "trái tim" của làng Hộ Lệnh, xã Điềm Thụy.

Đình làng được coi là "trái tim" của làng Hộ Lệnh, xã Điềm Thụy.

Người dân kể rằng, có những năm hạn hán, nhiều giếng xung quanh cạn nước nhưng giếng làng Cô Dạ vẫn đầy ắp. Đến năm 2009, giếng được tu sửa theo nguyện vọng của nhân dân. Tuy mang diện mạo mới nhưng với người dân, giá trị của giếng cùng những ký ức của xóm làng vẫn luôn được gìn giữ nguyên vẹn.

Cùng với giếng cổ, người dân Cô Dạ còn gìn giữ cả những quy ước, nếp sống cộng đồng đã gắn bó qua nhiều thế hệ. Bản hương ước của làng Cô Dạ có từ năm 1942 và đến nay vẫn được người dân tuân thủ. Từ việc cưới, việc tang đến các nghi lễ truyền thống, nhiều nội dung vẫn được vận dụng trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Chia tay Cô Dạ, chúng tôi tìm đến làng Hộ Lệnh, xã Điềm Thụy. Nếu ở Phương Độ còn nguyên hình dáng làng cổ, ở Cô Dạ còn đọng lại những ký ức của một miền quê, thì Hộ Lệnh lại khiến người ta nhớ bởi những lệ làng vẫn được gìn giữ đến hôm nay. Hằng năm, cứ đến mùng 4 tháng Giêng âm lịch, người Hộ Lệnh dù đi làm ăn xa hay bận rộn ở đâu cũng cố gắng trở về. Từ sáng sớm, sân đình, sân chùa đã rộn ràng tiếng nói cười. Người chuẩn bị lễ vật, người kê bàn ghế, người lo mâm cỗ. Không ai phân công, cũng chẳng cần nhắc nhở, mọi việc diễn ra như một thói quen đã được gìn giữ qua nhiều đời.

Theo lệ làng, những người dưới 50 tuổi cùng đóng góp gạo, thịt để tổ chức bữa cơm kính mời các bậc cao niên. Người dân nơi đây gọi đó là "Lễ lão ăn mày làng", một tục lệ mang đậm truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và tinh thần “kính lão đắc thọ”. Sau phần tế lễ, dân làng cùng rước kiệu, tham gia các trò chơi dân gian, gặp gỡ, hỏi han nhau sau một năm dốc sức làm việc.

Ông Dương Văn Sinh, người dân làng Hộ Lệnh, chia sẻ: Làng rồi sẽ có thêm những ngôi nhà mới, những con đường mới. Nhưng mỗi mùa hội, người Hộ Lệnh vẫn trở về, cùng nhau sửa soạn mâm cỗ, rước kiệu, thăm hỏi xóm giềng. Và có lẽ, chính từ những cuộc trở về ấy, nếp làng của chúng tôi vẫn được trao truyền một cách tự nhiên.

Những ngôi làng cổ rồi sẽ tiếp tục đổi thay cùng cuộc sống. Nhưng chừng nào người dân vẫn còn gìn giữ những nếp nhà, những lễ tục và tình làng nghĩa xóm như một phần máu thịt của quê hương, thì hồn cốt của làng Việt vẫn còn được nối dài qua từng thế hệ.

Mai An

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/dat-va-nguoi-thai-nguyen/202607/giu-nep-lang-tu-nhung-dieu-binh-di-c1b5a04/