Giữ nhịp đàn tính
Nơi núi rừng Tây Bắc, tiếng đàn Tính cùng những làn điệu Then ngọt ngào vẫn ngân vang, như nhịp nối quá khứ với hiện tại. Từ khi được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, hành trình gìn giữ "tiếng lòng" của đồng bào Thái, Tày, Nùng ở Điện Biên càng mang thêm ý nghĩa và trách nhiệm. Bằng tình yêu văn hóa dân tộc, những người nghệ nhân trong cộng đồng luôn kiên trì gìn giữ để hồn Then và nhịp đàn Tính sống mãi với thời gian.

Thanh âm từ cây đàn Tính nhịp nhàng vang lên trong đời sống cộng đồng dân tộc Thái (ngành Thái Trắng) ở Điện Biên.
Những đôi tay “đẽo gọt” thanh âm
Sinh ra trong gia đình có truyền thống văn hóa, ông Lường Văn Phối ở thôn Bản Hột (xã Sáng Nhè) lớn lên cùng tiếng hát Then, tiếng đàn Tính ngọt ngào của cha mẹ. Từ những lời ru và giai điệu mộc mạc đó, niềm đam mê âm nhạc dân tộc sớm nảy nở, rồi trở thành hành trang theo ông suốt cuộc đời.

Ông Lường Văn Phối (áo đen) nỗ lực truyền dạy nghề chế tác đàn Tính cho thế hệ trẻ.
Dù chưa từng qua trường lớp đào tạo chính quy, song với năng khiếu bẩm sinh và nhạy cảm đặc biệt với âm nhạc, ông Phối đã tự học, tự tìm tòi, vừa chế tác nhạc cụ, sáng tác, biểu diễn, vừa truyền dạy cho thế hệ trẻ. Ông chỉ mong tiếng đàn Tính, lời hát Then sẽ không bị mai một, để con cháu mai sau còn được biết đến cội nguồn và tự hào về bản sắc văn hoá dân tộc của mình.

Ông Lường Văn Phối (áo đen) trực tiếp truyền dạy nghệ thuật đàn tính.
Gần 50 năm gắn bó với cây đàn Tính và những điệu Then, ông Phối vẫn nâng niu nhạc cụ như một phần thân thuộc của cuộc sống. Thân đàn đã ngả màu, những đường vân gỗ nhuốm màu thời gian, nhưng mặt đàn luôn được lau sạch, dây đàn giữ gìn cẩn thận. Cây đàn thường nằm yên trên vách tường, lặng lẽ giữa nếp nhà quen thuộc, chờ những dịp vui để được ông hạ xuống, ôm vào lòng và cất lên những giai điệu thân thương.
Ông Lường Văn Phối, thôn Bản Hột, xã Sáng Nhè, tỉnh Điện Biên.
Ông Phối bén duyên với cây đàn từ năm 13 - 14 tuổi. Thuở ấy, không có trường lớp hay thầy dạy, ông thường đứng bên cha, bên chú, chăm chú quan sát từng nhịp gảy, cách đặt tay lên dây đàn rồi tự lần mò tập luyện. Biết chơi đàn, ông tiếp tục học cách làm đàn, để mang theo tiếng đàn đến những buổi hát giao duyên, lễ mừng nhà mới và những cuộc vui quây quần của bà con trong bản.

Ông Lò Văn Van (áo đen) trao đổi kinh nghiệm chế tác đàn Tính với người lớn tuổi trong bản.
Cũng như ông Phối, tại thôn Mường Đun, ông Lò Văn Van là một trong những người hiếm hoi còn am hiểu sâu sắc và miệt mài với nghề chế tác đàn Tính. Ông Van chia sẻ, cây đàn có 8 bộ phận; trong đó, quan trọng nhất nằm ở Bát Tính (quả bầu). Muốn cây đàn có âm thanh hay, bắt buộc phải chọn dòng gỗ nhẹ, không vênh để tạo nên phần bầu tốt. Mỗi cây đàn thường có từ 2 đến 3 dây, tùy theo sự lựa chọn của từng nghệ nhân.
Ông Lò Văn Van, thôn Mường Đun, xã Sáng Nhè, tỉnh Điện Biên.
Anh Lò Văn Minh, Bí thư Chi bộ thôn Mường Đun cho biết, thôn hiện có 220 hộ, với 985 khẩu, phần đa là đồng bào dân tộc Thái (ngành Thái Trắng) sinh sống. Trong nhịp đổi thay của cuộc sống hiện đại, nghệ thuật hát Then, đàn Tính ít được giới trẻ biết đến. Tuy nhiên, với sự quan tâm của các cấp chính quyền, mới đây, địa phương đã tổ chức các lớp truyền dạy nghề chế tác đàn Tính và các làn điệu hát Then, nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Những nghệ nhân như ông Van giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp truyền dạy kỹ thuật, đồng thời khơi dậy tình yêu với cây đàn Tính trong thế hệ trẻ.

Những kỹ thuật chế tác đàn Tính được trao truyền cho thế hệ trẻ.
Giữ tiếng đàn ngân vang
Hát Then, đàn Tính là loại hình nghệ thuật gắn bó lâu đời với đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào Tày, Nùng, Thái. Đó là sự kết hợp giữa vẻ đẹp con người với thiên nhiên, giữa giá trị nghệ thuật sâu sắc với yếu tố tinh thần và tâm linh. Qua lời ca và tiếng đàn, người dân gửi gắm theo ước vọng về cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh phúc. Trong lễ mừng nhà mới, tiếng đàn hòa cùng lời ca như lời chúc gia chủ thuận cuộc sống bình yên, gia đình thuận hòa. Ở những cuộc hát giao duyên, tiếng đàn trở thành nhịp cầu gắn kết tâm hồn, để người với người thêm gần gũi qua từng câu hát. Cây đàn mộc mạc vì thế đã đi cùng bao cuộc gặp gỡ, bao mùa vui của bản, lưu giữ những thanh âm thân thuộc trong đời sống.
Năm 2013, Di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam đã được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong ký ức cộng đồng, mỗi bài Then luôn phải dựa trên nền nhạc của cây đàn Tính, mang câu chuyện riêng và được cất lên theo từng hoàn cảnh. Những lời Then trong các nghi lễ khác nhau gửi gắm lòng thành kính với tổ tiên, ước vọng sức khỏe, bình an và sự hài hòa trong cuộc sống. Lời Then là cả một kho tàng tri thức truyền thống, được người đi trước gửi vào lời ca, tiếng đàn rồi trao truyền cho lớp người kế tiếp.

Nghệ thuật hát Then, đàn Tính được chị em thôn Pom Mỏ, xã Thanh Nưa duy trì thực hành tại các buổi luyện tập văn nghệ.
Cũng là cộng đồng dân tộc nắm giữ Di sản hát Then, đàn Tính, người Tày tại bản Pom Mỏ (xã Thanh Nưa) luôn trân trọng và gìn giữ trong đời sống thường ngày. Cùng với phương pháp truyền dạy truyền thống giữa các thế hệ, những người phụ nữ nơi đây còn chủ động ứng dụng công nghệ số để tìm hiểu, thực hành và đưa các giá trị văn hóa đến gần hơn với giới trẻ.
Bà Nông Thị Ba, bản Pom Mỏ, xã Thanh Nưa, tỉnh Điện Biên.
Tại các buổi luyện tập dân ca, tiếng đàn Tính hòa cùng làn điệu Then lúc khoan thai, lúc rộn ràng đã tạo nên không khí sinh hoạt văn nghệ sôi nổi. Theo bà Nông Thị Lợi, Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ bản Pom Mỏ, bản có hơn 200 hộ dân, 73 hộ là người Tày. Phát huy vai trò đồng hành, Chi hội thường xuyên vận động chị em duy trì 2 đội văn nghệ, với 20 thành viên thường xuyên luyện tập; vừa phục vụ các hoạt động của bản, vừa góp phần gìn giữ di sản văn hóa truyền thống, để những làn điệu, tiếng đàn của dân tộc mình không bị mai một.

Phụ nữ trẻ tuổi bản Pom Mỏ tận dụng công nghệ số trong việc bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật hát Then, đàn Tính.
Với thế hệ trẻ, việc học hát Then, đàn Tính cũng trở nên thuận lợi hơn nhờ sự kết hợp giữa truyền dạy trực tiếp và công nghệ, chị Mồng Thị Thắm bộc bạch: “Là thế hệ trẻ trong bản, tôi luôn tự giác học hỏi từ các bà, các bác đi trước. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng ứng dụng công nghệ để tìm kiếm những bài hát mới, làn điệu hay. Nhờ vậy, việc học hát Then, đàn Tính trở nên cuốn hút hơn, giúp thế hệ trẻ chúng tôi ngày càng yêu và nỗ lực gìn giữ nét văn hóa của dân tộc mình”.
Giữa nhịp sống hiện đại, tiếng đàn Tính hòa cùng những làn điệu Then vẫn ngân vang, một minh chứng sinh động cho sức sống bền bỉ của Di sản. Bằng sự trân trọng quá khứ và tư duy linh hoạt trong thời đại số, đồng bào các dân tộc ở Điện Biên vẫn đang viết tiếp câu chuyện giữ lửa văn hóa một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng đầy sức lan tỏa.
Nguồn Điện Biên Phủ: https://baodienbienphu.vn/tin-bai/van-hoa/giu-nhip-dan-tinh

