Giữ những "di sản sống" để mạch nguồn văn hóa được trao truyền
Có những giá trị văn hóa được lưu giữ trong di tích, hiện vật, sách cổ. Nhưng cũng có những di sản hiện hữu trong trí nhớ, đôi bàn tay, giọng hát và vốn tri thức của con người. Đó là những nghệ nhân, nhà nghiên cứu, người thực hành văn hóa dân gian đã dành phần lớn cuộc đời để gìn giữ những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ. Bởi vậy, giữ gìn những “di sản sống” cũng chính là giữ gìn mạch nguồn văn hóa, bồi đắp bản sắc và nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững.

Các thế hệ nghệ nhân hát Xẩm của xã Yên Từ trình diễn phục vụ khách du lịch.
Những người giữ gìn mạch nguồn văn hóa
Trong căn nhà nhỏ ở xã Yên Từ, tiếng trống mảnh của Nghệ nhân Ưu tú Vũ Xuân Năng vẫn đều đặn vang lên. Ngoài 70 tuổi, ông vẫn nhớ từng nhịp phách, cách lấy hơi, nhả chữ của những câu xẩm đã gắn bó với mình hơn nửa thế kỷ.

Nghệ nhân Ưu tú Vũ Xuân Năng truyền dạy hát Xẩm cho các cháu học sinh.
Sinh ra trên quê hương của nghệ thuật hát xẩm, năm 15 tuổi, ông Năng được theo học cố Nghệ sĩ Ưu tú, nghệ nhân dân gian Hà Thị Cầu. Những năm tháng ấy cho ông một vốn nghề quý: kỹ thuật đánh trống mảnh, cách giữ nhịp cho lời ca và những kinh nghiệm biểu diễn khó có thể chuyển tải đầy đủ qua sách vở.
Chiếc trống đã theo ông suốt nhiều năm cũng trở thành kỷ vật của một hành trình dài gìn giữ xẩm quê hương. Điều ông Năng đau đáu nhất bây giờ không phải mình còn có thể biểu diễn được bao lâu, mà là sau thế hệ mình, ai sẽ tiếp tục cất lên những câu xẩm ấy. Vì thế, nhiều năm qua, bên cạnh sinh hoạt tại Câu lạc bộ Hát xẩm Hà Thị Cầu, tham gia giao lưu, biểu diễn, ông dành nhiều thời gian truyền dạy miễn phí. Từng nhịp trống, tiếng phách được ông kiên nhẫn chỉ bảo cho những người yêu xẩm, nhất là lớp trẻ.
Nếu ông Năng giữ di sản bằng tiếng hát, nhịp trống và việc truyền nghề thì nhà thơ, nhà báo, nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian Nguyễn Thế Vinh ở phường Tiên Sơn lại có một cách khác: lặng lẽ đi tìm, ghi chép và hệ thống những lớp ký ức của làng quê.

Ông Nguyễn Thế Vinh đã dành nhiều tâm huyết tìm hiểu, sưu tầm tư liệu về lịch sử, ngôi nhà cổ tại làng lụa Nha Xá.
Ở tuổi ngoài 80, trong căn nhà có rất nhiều sách và tư liệu, ông vẫn dành thời gian cho công việc đã theo mình suốt hàng chục năm. Những câu chuyện về tên đất, tên làng, đình, đền, từ đường, những bản thần tích, thần sắc, ngọc phả hay phong tục cũ qua sự khảo cứu của ông dần được xâu chuỗi, đối chiếu để tìm về căn nguyên.
Ngay từ những năm còn làm báo, ông Nguyễn Thế Vinh đã dành nhiều tâm huyết tìm hiểu, sưu tầm tư liệu về lịch sử, văn hóa, văn nghệ dân gian. Sau khi nghỉ hưu, ông mới có điều kiện dành gần như trọn thời gian cho công việc này. Những trang tư liệu được ghi chép, đối chiếu cẩn trọng đã góp phần cùng các cơ quan chuyên môn làm sáng rõ tên đất, tên người, quá trình lập làng, lập ấp và những giá trị văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Công việc ấy đòi hỏi sự kiên trì. Một thông tin liên quan đến lịch sử của một làng, một di tích hay dòng họ không thể chỉ nghe rồi ghi lại. Với ông Vinh, tư liệu phải được khảo cứu, so sánh và thận trọng trước khi đưa ra nhận định. Chính cách làm ấy giúp nhiều lớp thông tin vốn nằm rải rác trong ký ức dân gian, tư liệu cổ và đời sống cộng đồng được hệ thống lại, trở thành nguồn tham khảo cho những người đi sau.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Vinh cho rằng, nghiên cứu văn hóa trước hết phải có trách nhiệm với lịch sử và với thế hệ sau. Điều ông mong muốn là những tư liệu mình đã tìm kiếm, đối chiếu, ghi chép qua nhiều năm sẽ giúp lớp trẻ hiểu quê hương mình hình thành ra sao, cha ông đã sống và gìn giữ những giá trị gì; từ hiểu mới có thể yêu quý và tiếp tục gìn giữ.

Ông Nguyễn Thế Vinh tìm hiểu nghiên cứu lịch sử Phủ Mẫu Mộc Hoàn, phường Duy Tân.
Đến nay, ông đã xuất bản 6 tập thơ, 12 công trình nghiên cứu, sưu tầm văn hóa dân gian, trong đó có 10 công trình được xếp hạng quốc gia, cấp tỉnh, thành phố; tham gia biên soạn hàng trăm thần sắc, thần tích, ngọc phả tại các di tích và từ đường dòng họ. Ở tuổi ngoài 80, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm văn hóa, văn nghệ dân gian và sáng tác. Nhưng điều đáng quý trong hành trình ấy là ông không muốn tri thức chỉ nằm lại trên những trang sách.
Trao truyền di sản
Trong căn nhà của ông Nguyễn Thế Vinh có một không gian mang tên “Vườn Câu Tử”. Ông dày công gây dựng nơi đây thành một địa chỉ dành cho những người yêu lịch sử, văn chương và di sản quê hương. Ở đó có những buổi ngâm thơ, trình diễn nghệ thuật truyền thống, những cuộc trò chuyện về lịch sử, văn hóa và con người Ninh Bình. Nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ, các bậc cao niên và cả những người trẻ cùng ngồi lại. Một câu chuyện cũ được kể, một làn điệu dân gian được cất lên, một vấn đề lịch sử được trao đổi.

Một buổi trình diễn trang phục thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tại Vườn Câu Tử của ông Nguyễn Thế Vinh.
Nghệ nhân Hoàng Văn Thương, Thủ nhang Phủ Mẫu Mộc Hoàn, phường Duy Tân đánh giá những nghiên cứu của ông Nguyễn Thế Vinh, trong đó có tư liệu về lịch sử di tích Phủ Mẫu Mộc Hoàn, là nguồn tư liệu quý, góp phần phục vụ việc phục dựng, bảo tồn các giá trị văn hóa tâm linh của địa phương và trao lại cho những thế hệ sau.
Cũng với mong muốn trao lại cho người sau những giá trị nguyên bản của di sản, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thư, nguyên Giám đốc Bảo tàng tỉnh Nam Định (cũ), dành nhiều năm nghiên cứu và đồng hành cùng cộng đồng thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt.
Sau khi nghỉ công tác quản lý, ông vẫn tham gia các hội thảo khoa học, liên hoan thực hành tín ngưỡng và các hoạt động trao đổi với thế hệ kế cận. Điều ông quan tâm là những thanh đồng, cung văn trẻ không chỉ biết thực hành mà phải hiểu được ý nghĩa lịch sử, văn hóa nằm sau mỗi phục trang, làn điệu chầu văn và từng nghi thức. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thư chia sẻ, người trẻ khi thực hành di sản cần hiểu rằng phía sau mỗi nghi thức là cả một hệ thống lịch sử, thẩm mỹ và tâm thức được cha ông trao truyền. Nếu không hiểu gốc rễ, việc thực hành rất dễ chỉ còn hình thức.

Thực hành tín ngưỡng thờ mẫu Tam phủ tại đền Lảnh Giang.
Nỗi trăn trở ấy càng đáng chú ý khi di sản bước sâu hơn vào đời sống hiện đại. Ông Thư ủng hộ ứng dụng công nghệ để tư liệu hóa, quảng bá di sản, nhưng cho rằng việc đổi mới phải giữ được tính nguyên bản, sự trang nghiêm và không gian văn hóa của thực hành tín ngưỡng; tránh sân khấu hóa, thương mại hóa làm sai lệch giá trị vốn có.
Nguồn lực quan trọng cho định hướng phát triển công nghiệp văn hóa.
Mỗi người có một cách giữ gìn di sản của nhân loại khác nhau, song điểm gặp nhau ở họ là ý thức rằng di sản chỉ có thể đi xa khi có người tiếp nhận và tiếp tục thực hành. Với vốn tri thức văn hóa truyền thống mà họ đang nắm giữ cần được nhanh chóng bảo tồn, lưu giữ, trao truyền nhất là trong bối cảnh nhiều nghệ nhân, nhà nghiên cứu, người thực hành văn hóa dân gian đã cao tuổi.
Một làn điệu có thể được ghi âm; một nghi lễ có thể được ghi hình; hàng nghìn trang tư liệu có thể được số hóa. Nhưng kinh nghiệm, kỹ năng và cách hiểu được tích lũy qua cả cuộc đời chỉ thực sự sống khi có người kế tục. Bởi vậy, cùng với tôn vinh, đãi ngộ nghệ nhân và những người có nhiều đóng góp cho di sản, điều cần thiết hơn là tạo điều kiện để họ truyền nghề, truyền tri thức thông qua các lớp học, câu lạc bộ, không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng…

Công trình kiến trúc cổ tại làng Quan Văn, xã Lý Nhân cần sớm được nghiên cứu bảo tồn.
Trung tướng Vũ Thuật, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an cho rằng: Tri thức bản địa, kỹ nghệ thủ công, dân ca, tín ngưỡng, phong tục cùng những câu chuyện riêng của mỗi vùng đất là chất liệu để hình thành những sản phẩm văn hóa, sáng tạo và du lịch mang bản sắc riêng. Bởi thế mỗi con người cụ thể đang lưu giữ trong mình những giá trị văn hóa cần được nhìn nhận như những “di sản sống” là nguồn lực quan trọng cho định hướng phát triển công nghiệp văn hóa.
Song ông cho rằng, khai thác những giá trị ấy phải bắt đầu từ sự tôn trọng chủ thể văn hóa. Mối quan hệ giữa di sản văn hóa phi vật thể và các ngành công nghiệp văn hóa cần được xây dựng trên nền tảng sự tham gia của cộng đồng, quyền văn hóa, đổi mới sáng tạo có trách nhiệm, chia sẻ lợi ích công bằng, trao truyền giữa các thế hệ và tính bền vững lâu dài. Trong đó, các nghệ nhân, các nhà nghiên cứu văn hóa không chỉ được nhìn nhận như những người cung cấp nguồn lực văn hóa, mà còn phải được tôn trọng với tư cách là chủ thể nắm giữ tri thức và đối tác sáng tạo.
Giữ những “di sản sống”, vì thế, trước hết là giữ người, giữ tri thức và tạo ra người kế tục. Để mai này, khi những mái đầu đã bạc không còn đủ sức cất tiếng hát, gõ nhịp trống hay lần giở những trang tư liệu cũ, câu xẩm vẫn có người hát, chuyện quê hương vẫn có người kể, những nghi lễ cổ vẫn được thực hành đúng với căn cốt của mình. Và mạch nguồn văn hóa được cha ông trao lại sẽ tiếp tục chảy trong đời sống của những thế hệ mai sau.
