Để cộng đồng trở thành chủ thể của bảo tồn di sản
Các diễn giả tại phiên toàn thể Chủ đề 4 của Đối thoại châu Á - Thái Bình Dương về Di sản và Tính xác thực ngày 28-9 nhấn mạnh vai trò của cộng đồng, người nắm giữ tri thức và yêu cầu hoàn thiện chính sách để di sản được gìn giữ, trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại.
Kinh nghiệm của các chuyên gia bảo tồn di sản
Tại phiên toàn thể với chủ đề “Cộng đồng, người nắm giữ tri thức và các giá trị gây tranh cãi”, bà Pelea Tehumu, đại diện Kiribati, và ông Seng Chantha, đại diện Campuchia, chia sẻ kinh nghiệm về sự tham gia của cộng đồng trong bảo tồn di sản.

Phần trình bày kinh nghiệm của ông Seng Chantha (Campuchia) trong phiên thảo luận số 4. Ảnh: Hoàng Sơn
Từ Kiribati, bà Pelea Tehumu đưa ra trường hợp một di sản đá chịu tác động của xói lở bờ biển và biến đổi môi trường. Với một quốc đảo thấp ở Thái Bình Dương, nơi đời sống gắn chặt với biển, di sản vật thể không thể tách rời ký ức, phong tục và tri thức truyền thống.
Một vấn đề được đặt ra là sự khác biệt giữa những câu chuyện về di sản trong các tài liệu bên ngoài với lịch sử truyền miệng được lưu giữ trong cộng đồng. Tri thức được trao truyền qua người cao tuổi, gia đình và những người thực hành văn hóa; trong đó có những tri thức mang tính riêng tư, cần được tôn trọng khi tư liệu hóa.
Theo kinh nghiệm được chia sẻ, việc ghi chép lịch sử truyền miệng cần dựa trên tham vấn và sự đồng thuận của cộng đồng. Người trẻ được huy động tham gia phỏng vấn, lập bản đồ GPS và sử dụng công cụ số để lưu giữ tri thức của thế hệ trước.
Kiribati cũng kết hợp tri thức sinh thái truyền thống với phương pháp khoa học. Người am hiểu địa phương cung cấp thông tin về sự thay đổi của bờ biển, thời tiết, dòng chảy, môi trường và ý nghĩa văn hóa của địa điểm; các nhóm nghiên cứu sử dụng khảo sát thực địa và GPS để ghi nhận biến đổi vật chất.
Từ Campuchia, ông Seng Chantha chia sẻ kinh nghiệm tại Sambor Prei Kuk, quần thể khảo cổ được UNESCO ghi danh là Di sản thế giới năm 2017, với 325 cấu trúc được ghi nhận.
Cộng đồng quanh khu di sản duy trì mối liên hệ với các ngôi đền và khu rừng gắn với ký ức cộng đồng thông qua lễ hội, nghi lễ tôn giáo, tưởng nhớ tổ tiên và các hoạt động văn hóa. Người dân tham gia bảo tồn di tích, di sản văn hóa phi vật thể và môi trường thông qua tri thức, kỹ năng truyền thống.
Campuchia triển khai các chương trình giáo dục di sản, nâng cao năng lực cộng đồng, bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, môi trường và phục hồi một số thực hành truyền thống. Các chương trình đào tạo thực hành về bảo tồn giúp người dân có thêm kiến thức, kỹ năng tham gia trực tiếp vào quá trình bảo vệ di sản.
Theo ông Seng Chantha, việc tăng cường quyền của cộng đồng đối với di sản văn hóa phi vật thể có thể được nhìn nhận qua chuỗi: quyền của cộng đồng - công nhận di sản - tham gia - quyền làm chủ - bảo tồn bền vững.
Kinh nghiệm từ Kiribati và Campuchia cho thấy tri thức cộng đồng và tri thức khoa học có thể bổ trợ cho nhau. Người dân nắm giữ phong tục, ký ức và hiểu biết về cảnh quan; nghệ nhân nắm giữ kỹ năng thực hành; các nhà nghiên cứu và chuyên gia bảo tồn cung cấp phương pháp tư liệu hóa, đánh giá và bảo vệ di sản.
Từ thực tiễn Việt Nam, GS.TS Đặng Văn Bài, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, cho rằng tính chân xác của di sản cần được nhìn nhận phù hợp với đặc điểm văn hóa Việt Nam - một nền văn hóa hình thành qua quá trình giao lưu, tiếp biến lâu dài.
Theo ông, nhiều yếu tố văn hóa bên ngoài khi được tiếp nhận đã được người Việt biến đổi, bản địa hóa và trao truyền qua nhiều thế hệ. Vì vậy, tính chân xác không chỉ nằm ở nguồn gốc ban đầu mà còn thể hiện qua cách cộng đồng tiếp nhận, thực hành và trao truyền giá trị.
Đối với Thăng Long, ông cho rằng cần nhìn nhận tính chân xác trên ba phương diện: vật chất, phi vật thể và cộng đồng. Những kết quả khảo cổ học giúp nhận diện không gian vật chất của Hoàng thành, nhưng để hiểu đầy đủ về kinh đô xưa cần đặt các dấu tích trong mối liên hệ với nghi lễ, tín ngưỡng, phong tục, tri thức và đời sống cộng đồng.
Theo ông, chính cộng đồng quyết định sức sống của di sản. Một giá trị nếu chỉ còn trong hồ sơ hoặc dấu tích vật chất mà không còn được cộng đồng biết đến, yêu mến và thực hành thì khó duy trì lâu dài.
Góc nhìn của nghệ nhân Việt
Từ góc độ người trực tiếp gìn giữ nghề, Nghệ nhân Ưu tú Phan Thị Thuận từ làng nghề dệt Phùng Xá (xã Mỹ Đức, Hà Nội) nhấn mạnh vai trò của đào tạo và truyền nghề cho thế hệ trẻ.
Theo bà, cần tạo điều kiện để người trẻ tham gia gìn giữ, phát triển nghề; đồng thời kết nối người làm nghề với họa sĩ, nhà thiết kế, chuyên gia truyền thông và phát triển sản phẩm để hình thành hệ sinh thái hỗ trợ làng nghề.

Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Tĩnh trong việc sản xuất sản phẩm mây tre đan tại làng Phú Vinh, xã Phú Nghĩa, Hà Nội. Ảnh: Khánh Huy
Mỗi năm, bà đào tạo khoảng 70-100 học sinh vào dịp nghỉ hè, giúp các em làm quen và trực tiếp thực hành nghề. Theo bà, trước hết cần giúp người trẻ hiểu, yêu nghề và trân trọng những giá trị cha ông để lại.
“Khi hiểu toàn bộ hành trình tạo ra sản phẩm, từ nguyên liệu đến thành phẩm, người trẻ sẽ có thêm khả năng sáng tạo và tìm hướng đưa sản phẩm truyền thống đến gần công chúng,” nghệ nhân này chia sẻ.
Về chính sách, bà Thuận mong muốn Nhà nước và chính quyền địa phương tiếp tục quan tâm tới những người trực tiếp giữ nghề, đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất; đồng thời có chính sách khuyến khích phát triển vùng nguyên liệu và mặt bằng sản xuất, tạo điều kiện để nghề được duy trì ổn định.
Với Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Tĩnh từ làng nghề mây tre đan Phú Vinh (xã Phú Nghĩa, Hà Nội), câu chuyện bảo tồn nghề mây tre đan Phú Vinh cho thấy rõ yêu cầu về lớp kế cận.
Ông cho biết, làng nghề Phú Vinh có lịch sử nghề hơn 400 năm, với khoảng 250 kiểu đan được ghi nhận. Nhiều kỹ thuật tinh xảo vẫn được lưu giữ chủ yếu trong các gia đình và bởi nghệ nhân.
Tại cơ sở của ông hiện có 10 người làm nghề, nhưng người trẻ nhất cũng đã 42 tuổi. Trong khi thế hệ trẻ sinh sau năm 2000 có xu hướng không muốn học nghề truyền thống.
Do đó, ông thường khuyến khích thợ tham gia các cuộc thi, hỗ trợ nguyên liệu và tạo điều kiện phát triển ý tưởng mới. Năm nay, Phú Vinh có khoảng 100 mẫu sản phẩm tham gia 4 cuộc thi, tạo thêm động lực sáng tạo cho nghệ nhân và thợ trẻ.
Theo ông Tĩnh, khen thưởng và tôn vinh nghệ nhân cần được thực hiện kịp thời, đa dạng hơn để tạo động lực cho người làm nghề và thế hệ trẻ. Ông cũng đề nghị tiếp tục hoàn thiện chính sách dành cho nghệ nhân, trong đó nghiên cứu cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với nghệ nhân thủ công mỹ nghệ.
“Nhiều nghệ nhân đang gặp khó khăn về tài chính, vì vậy có thể nghiên cứu các hình thức hỗ trợ về vốn, điều kiện sản xuất hoặc hỗ trợ định kỳ, giúp họ yên tâm duy trì nghề và truyền lại kỹ thuật cho thế hệ sau,” Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Tĩnh cho biết.
Từ Kiribati, Campuchia đến Việt Nam, các tham luận cho thấy bảo tồn di sản không chỉ là giữ lại công trình, hiện vật hay kỹ thuật, mà còn là duy trì mối quan hệ giữa di sản với cộng đồng đã tạo ra, thực hành và trao truyền các giá trị ấy. Khi cộng đồng được tham gia vào quá trình nhận diện, tư liệu hóa và ra quyết định, tri thức bản địa có thể bổ sung cho phương pháp khoa học.
Còn tại Việt Nam, việc hoàn thiện chính sách hỗ trợ nghệ nhân, đào tạo lớp kế cận, vùng nguyên liệu, không gian sản xuất và phát triển sản phẩm sẽ tạo thêm điều kiện để các giá trị truyền thống tiếp tục được thực hành.
Cộng đồng không chỉ là nơi di sản tồn tại, mà còn là nơi di sản được thực hành, trao truyền và tiếp tục tạo ra những giá trị mới.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/de-cong-dong-tro-thanh-chu-the-cua-bao-ton-di-san-1758576.html


