Từ Ngày Văn hóa Việt Nam đến thương hiệu và nguồn lực phát triển quốc gia
Như kỳ trước đã đề cập, chủ trương xây dựng Ngày Văn hoá Việt Nam 24/11 trở thành thương hiệu văn hoá quốc gia gợi mở về một cách tiếp cận mới đối với phát triển văn hóa: lấy người dân làm trung tâm, đưa văn hóa ra khỏi không gian hội trường để hiện diện sinh động trong cộng đồng…
Trong mô hình phát triển mới của đất nước, văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà ngày càng phải được chuyển hóa thành nguồn lực nội sinh, thành sản phẩm, thị trường, việc làm, sức hấp dẫn và sức mạnh mềm quốc gia.
Mục tiêu xây dựng Ngày Văn hóa Việt Nam - 24/11 thành thương hiệu văn hóa quốc gia cần được nhìn rộng hơn một sự kiện thường niên: đó có thể trở thành điểm hội tụ để nhận diện tài nguyên văn hóa, kích hoạt sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa và đưa hình ảnh Việt Nam đi xa hơn trên thế giới.
"Mỗi hoạt động một sản phẩm, mỗi địa phương một dấu ấn"
Trong chỉ đạo triển khai Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026, có một yêu cầu rất đáng suy nghĩ: phấn đấu để mỗi hoạt động trở thành một sản phẩm văn hóa cụ thể và có khả năng lan tỏa, mỗi địa phương có một dấu ấn văn hóa. Khi thực hiện đúng tinh thần này, Ngày Văn hóa Việt Nam có thể trở thành một phép thử quan trọng cho năng lực chuyển hóa vốn văn hóa thành giá trị phát triển.
Việt Nam không thiếu tài nguyên văn hóa. Từ miền núi phía Bắc xuống đồng bằng, từ dải đất miền Trung đến Tây Nguyên và Nam bộ, mỗi vùng đều có những lớp trầm tích lịch sử, di sản, lễ hội, làng nghề, âm nhạc, ẩm thực, tri thức dân gian và cảnh quan đặc sắc. Vấn đề không nằm ở chỗ chúng ta có bao nhiêu tài nguyên, mà ở khả năng nhận diện, kể chuyện, thiết kế trải nghiệm, bảo hộ tài sản trí tuệ, tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và xây dựng thương hiệu từ những tài nguyên ấy.
Một sản phẩm văn hóa không tự nhiên hình thành chỉ vì địa phương có di sản. Giữa tài nguyên và sản phẩm là cả một chuỗi sáng tạo: nhận diện giá trị cốt lõi, xây dựng câu chuyện, thiết kế hình thức biểu đạt, lựa chọn công nghệ, phát triển dịch vụ, đào tạo nhân lực, truyền thông, phân phối và tiếp nhận phản hồi của thị trường.

Festival Thăng Long - Hà Nội qua 2 lần tổ chức đã trở thành một thương hiệu văn hoá ấn tượng
Có thể hình dung chuỗi ấy theo một logic đơn giản: tài nguyên văn hóa - câu chuyện - sản phẩm - trải nghiệm - thị trường - thương hiệu. Mắt xích nào yếu, giá trị văn hóa cũng khó chuyển thành giá trị phát triển.
Bởi vậy, yêu cầu mỗi tỉnh, thành lựa chọn ít nhất một hoạt động, sản phẩm hoặc không gian văn hóa tiêu biểu gắn với quảng bá và kích cầu du lịch là một cơ hội để từng địa phương tự trả lời câu hỏi: đâu là "mã văn hóa" riêng của mình? Điều gì khiến người ta nhớ đến địa phương ấy mà không nhầm với nơi khác? Đó có thể là một không gian phố cổ, một làng nghề, một lễ hội, một loại hình nghệ thuật, một món ăn, một câu chuyện lịch sử hoặc một phong cách sống đặc trưng.
Khi được nhận diện đúng và đầu tư bài bản, những giá trị ấy không chỉ tạo niềm tự hào mà còn có thể tạo việc làm, thu nhập và sức hút đầu tư.
Ngày Văn hóa Việt Nam cũng cần tìm được những sản phẩm như vậy. Có thể là một chương trình nghệ thuật thường niên có chất lượng quốc tế; một tuần lễ trải nghiệm di sản và sáng tạo; một hệ sản phẩm thiết kế lấy cảm hứng từ văn hóa Việt Nam; một liên hoan nội dung số; hay một chuỗi hoạt động đồng thời tại các địa phương nhưng thống nhất trong nhận diện và thông điệp. Quan trọng nhất là sau mỗi mùa 24/11, chúng ta có thêm sản phẩm mới, thương hiệu mới và thị trường mới chứ không chỉ thêm một báo cáo tổng kết.
Từ bảo tồn di sản đến kiến tạo giá trị mới
Muốn văn hóa trở thành nguồn lực phát triển, một trong những vấn đề khó nhất là tìm được quan hệ hài hòa giữa bảo tồn và sáng tạo. Nếu chỉ coi di sản là thứ phải giữ nguyên, chúng ta có thể bảo vệ được hình thức nhưng chưa chắc duy trì được sức sống. Ngược lại, nếu khai thác thương mại thiếu giới hạn, di sản có thể bị sân khấu hóa, làm giả hoặc mất đi tính xác thực.
Bài toán của phát triển hiện đại vì vậy không phải lựa chọn giữa bảo tồn hoặc phát triển, mà là phát triển như thế nào để bảo tồn tốt hơn và bảo tồn như thế nào để tạo điều kiện cho sáng tạo.
Ngày 19/8/2026, khi làm việc về công tác bảo tồn và bảo tàng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu "chuyển từ bảo tồn thụ động sang chủ động kiến tạo ký ức quốc gia". Tôi cho rằng tư duy này có ý nghĩa rộng hơn lĩnh vực bảo tàng. Mỗi thế hệ không chỉ nhận di sản từ quá khứ mà còn có trách nhiệm tạo ra những giá trị đủ ý nghĩa để trở thành di sản của tương lai. Nhìn theo cách ấy, bảo tồn không phải là đóng cánh cửa để giữ nguyên quá khứ, mà là mở một cuộc đối thoại giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.
Chúng ta đã thấy ở nhiều nơi trên thế giới và ngay tại Việt Nam rằng một di sản chỉ thực sự bền vững khi cộng đồng gắn bó với nó và có lợi ích chính đáng từ việc bảo vệ nó. Một làng nghề không thể tồn tại nếu người trẻ không nhìn thấy tương lai trong nghề. Một phố cổ khó giữ được cư dân nếu mọi lợi ích phát triển chỉ thuộc về bên ngoài. Một loại hình nghệ thuật truyền thống khó có sức sống nếu nghệ nhân không có người học, còn người học không có không gian biểu diễn và thị trường. Vì vậy, phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa hoặc kinh tế di sản phải đặt cộng đồng vào trung tâm của chuỗi giá trị.
Có thể bắt đầu từ những việc rất cụ thể. Với một làng nghề, ngoài việc gìn giữ kỹ thuật truyền thống, cần hỗ trợ thiết kế, xây dựng thương hiệu, thương mại điện tử, bảo hộ chỉ dẫn địa lý và kể câu chuyện về người làm nghề. Với một bảo tàng, ngoài trưng bày hiện vật cần đầu tư giám tuyển, giáo dục bảo tàng, công nghệ trải nghiệm, sản phẩm lưu niệm và dữ liệu mở có kiểm soát. Với một phố cổ, bên cạnh tu bổ kiến trúc phải quan tâm sinh kế của cư dân, chất lượng không gian công cộng, quản lý du lịch và khả năng duy trì đời sống thường nhật. Với di sản phi vật thể, cần tạo môi trường thực hành để di sản không chỉ xuất hiện trên sân khấu lễ hội mà còn sống trong cộng đồng.
Trung Quốc có Ngày Di sản văn hóa và thiên nhiên vào thứ Bảy thứ 2 của tháng 6 hằng năm, được điều chỉnh và xác lập ở cấp quốc gia từ năm 2017. Việc dành một ngày thường niên cho di sản có ý nghĩa ở chỗ biến bảo tồn thành một hoạt động truyền thông xã hội rộng lớn, tạo cơ hội để bảo tàng, địa phương, cộng đồng và công chúng cùng tham gia. Nhưng kinh nghiệm quan trọng hơn với Việt Nam là một ngày chỉ tạo được sự chú ý; còn sức sống của di sản phụ thuộc vào hệ thống chính sách, nhân lực, dữ liệu, giáo dục, thị trường và cộng đồng trong cả năm.
Đây cũng chính là điểm gặp nhau giữa Ngày Văn hóa Việt Nam và mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa. Tại Phiên họp ngày 13/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ khoảng cách giữa vốn văn hóa lớn với năng lực sáng tạo, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm văn hóa vẫn còn đáng kể; mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP đặt ra yêu cầu phải hình thành một hệ sinh thái đồng bộ hơn về thể chế, thị trường, dữ liệu, nhân lực và huy động nguồn lực.
Vì thế, mỗi hoạt động trong Ngày Văn hóa Việt Nam nên được thiết kế như một mắt xích của quá trình dài hơn: trước sự kiện là tuyển chọn, ươm tạo, đào tạo và sản xuất; trong sự kiện là trình diễn, trải nghiệm, kết nối thị trường; sau sự kiện là hỗ trợ phân phối, bảo hộ, đầu tư và mở rộng thị trường. Chỉ khi ấy, ngày 24/11 mới thực sự góp phần đưa văn hóa từ "tài nguyên tiềm năng" thành năng lực cạnh tranh thực tế.

Làng nghề Hoa giấy Thanh Tiên - một di sản tiêu biểu của Huế. Ảnh: Hải Âu
Từ thương hiệu văn hóa đến sức mạnh mềm Việt Nam
Mục tiêu xây dựng Ngày Văn hóa Việt Nam thành một thương hiệu văn hóa quốc gia đặt ra một câu hỏi lớn hơn: thương hiệu văn hóa Việt Nam trong mắt thế giới là gì?
Khi nhắc đến Nhật Bản, người ta có thể nhớ đến anime, manga, ẩm thực, kiến trúc, thiết kế và nhiều biểu tượng văn hóa vừa truyền thống vừa hiện đại. Khi nhắc đến Hàn Quốc, K-pop, điện ảnh, phim truyền hình, mỹ phẩm, thời trang và ẩm thực đã tạo thành một hệ sinh thái lan tỏa lẫn nhau. Khi nhắc đến Pháp, di sản, bảo tàng, thời trang, điện ảnh, ẩm thực và các lễ hội công cộng tạo nên một hình ảnh có sức nhận diện mạnh. Những thương hiệu ấy không được tạo nên bởi một chiến dịch truyền thông ngắn hạn mà là kết quả của nhiều thập niên đầu tư vào sáng tạo, giáo dục, thị trường và năng lực kể câu chuyện quốc gia.
Vì thế, Ngày Văn hóa Việt Nam nên được coi là một "cửa sổ thương hiệu" hằng năm của quốc gia. Trong tháng 11, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, trung tâm văn hóa, doanh nghiệp, cộng đồng người Việt Nam, nghệ sĩ và các nền tảng số có thể cùng tham gia một chiến dịch thống nhất để kể câu chuyện Việt Nam. Nhưng điều được mang ra thế giới không nên chỉ là các tiết mục biểu diễn quen thuộc. Chúng ta cần lựa chọn những sản phẩm tốt nhất của năm trong điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang, trò chơi, hoạt hình, ẩm thực, thủ công, xuất bản và sáng tạo số để giới thiệu như những khuôn mặt đương đại của văn hóa Việt Nam.
Trong bối cảnh cạnh tranh về sức mạnh mềm ngày càng gay gắt, câu chuyện văn hóa cũng là câu chuyện về năng lực hiện diện. Ai có những câu chuyện hấp dẫn hơn, sản phẩm tốt hơn, nền tảng mạnh hơn và khả năng phân phối rộng hơn sẽ có nhiều cơ hội tác động đến sự chú ý, thiện cảm và lựa chọn của công chúng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt vấn đề xây dựng văn hóa trong cả không gian thực và không gian số, coi năng lực tự chủ về dữ liệu, nền tảng và nội dung văn hóa là một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia trong thời đại số. Điều đó cho thấy sức mạnh mềm ngày nay không thể tách khỏi năng lực công nghệ và công nghiệp sáng tạo.
Bởi vậy, Ngày Văn hóa Việt Nam không nên chỉ là dịp "giới thiệu những gì chúng ta có", mà phải thúc đẩy câu hỏi "chúng ta sẽ sáng tạo thêm điều gì từ những gì đang có". Di sản chỉ là điểm khởi đầu. Từ hoa văn cổ có thể sinh ra thiết kế mới; từ truyền thuyết có thể hình thành phim, hoạt hình, trò chơi; từ âm nhạc truyền thống có thể tạo nên tác phẩm đương đại; từ ẩm thực có thể xây dựng thương hiệu; từ một phố cổ có thể hình thành hệ sinh thái kinh tế đêm, nghệ thuật, thủ công và trải nghiệm bản địa. Chính khả năng tái sinh ấy làm cho văn hóa trở thành một nguồn lực không cạn kiệt.
Bởi vậy, ý nghĩa lớn nhất của Ngày Văn hóa Việt Nam không nằm trong riêng ngày 24/11. Ngày đó nên là điểm hội tụ của một quá trình kéo dài suốt năm: phát hiện tài năng, ươm tạo ý tưởng, bảo tồn di sản, sáng tạo sản phẩm, mở rộng thị trường, giáo dục thế hệ trẻ và quảng bá hình ảnh quốc gia. Nếu mỗi mùa 24/11, mỗi địa phương có thêm một dấu ấn, mỗi di sản có thêm một đời sống mới, mỗi nghệ sĩ có thêm một không gian sáng tạo, mỗi doanh nghiệp có thêm một cơ hội đầu tư và mỗi người dân có thêm một trải nghiệm văn hóa đáng nhớ, chúng ta sẽ từng bước biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm thực sự của đất nước.
Một ngày để tôn vinh văn hóa là cần thiết. Nhưng khát vọng lớn hơn phải là làm cho văn hóa hiện diện trong mọi ngày của phát triển - trong kinh tế, giáo dục, công nghệ, du lịch, ngoại giao, quản trị đô thị và đời sống cộng đồng. Khi đó, Ngày Văn hóa Việt Nam mới không chỉ là tên của một ngày trong lịch, mà trở thành biểu tượng của một đất nước biết trân trọng quá khứ, sáng tạo trong hiện tại và tự tin kiến tạo tương lai bằng chính sức mạnh văn hóa của mình.
Yêu cầu mỗi tỉnh, thành lựa chọn ít nhất một hoạt động, sản phẩm hoặc không gian văn hóa tiêu biểu gắn với quảng bá và kích cầu du lịch là một cơ hội để từng địa phương tự trả lời câu hỏi: đâu là "mã văn hóa" riêng của mình?
