Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết
Tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt kết quả tích cực cho thấy nội lực và khả năng thích ứng của nền kinh tế Việt Nam đang dần được củng cố. Đây là điểm tựa tốt cho tăng trưởng kinh tế trong năm 2026 và những năm sau.

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026.
Bên thềm xuân mới Bính Ngọ 2026, phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương về triển vọng kinh tế 2026.
Phóng viên: XinCục trưởng đánh giá về bức tranh kinh tế tổng quan năm 2025?
Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Theo kết quả thống kê, quý IV/2025, tăng trưởng kinh tế duy trì đà phục hồi tích cực và đạt mức cao hơn so với các quý trước trong năm (quý I tăng 7,05%, quý II tăng 8,16%, quý III tăng 8,25%, quý IV tăng 8,46%). Đây là quý có ý nghĩa quyết định, đóng vai trò “bứt tốc” cho tăng trưởng cả năm, phản ánh rõ hiệu quả lan tỏa của các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, kích thích tổng cầu và thúc đẩy đầu tư được triển khai xuyên suốt năm 2025.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục mở rộng, tiêu dùng cuối cùng tăng khá; đầu tư xã hội, nhất là đầu tư công được thúc đẩy mạnh mẽ vào 3 tháng cuối năm tạo hiệu ứng lan tỏa tới các ngành liên quan; xuất nhập khẩu tiếp tục diễn biến sôi động trong quý IV, góp phần củng cố động lực tăng trưởng. Tính chung cả năm 2025, tăng trưởng kinh tế đạt 8,02%, hoàn thành mục tiêu kế hoạch.
Kết quả này thể hiện nỗ lực vượt bậc của tất cả hệ thống chính trị, bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân. Nền tảng vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát trong giới hạn cho phép, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tiếp tục được duy trì hỗ trợ, giúp doanh nghiệp và người dân củng cố niềm tin, tạo dư địa thuận lợi cho phát triển kinh tế.
Xét cả năm 2025, bức tranh kinh tế cho thấy sự khác biệt rõ giữa các khu vực. Khu vực nông, lâm, thủy sản gặp nhiều khó khăn bất lợi như mưa bão, lũ lụt diễn ra ở cả 3 miền đất nước, dịch tả lợn châu Phi kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản ở một số địa phương. Nhưng bù lại, ngành nông nghiệp đã có nhiều giải pháp kịp thời để khắc phục khó khăn và đạt kết quả tăng trưởng khá ổn định (nông nghiệp tăng 3,48%, lâm nghiệp tăng 5,70%, thủy sản tăng 4,41%).
Khu vực công nghiệp và xây dựng là điểm sáng nổi bật của nền kinh tế. Hầu hết các ngành công nghiệp đều tăng trưởng khá, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vững vai trò đầu tàu với mức tăng trưởng 9,97%, đặc biệt ngành xây dựng đạt mức tăng trưởng tốt 9,62%, cao nhất từ năm 2017 đến nay phản ánh rõ tác động tích cực của đầu tư công và sự phục hồi của thị trường xây dựng. Khu vực dịch vụ đã có những dấu hiệu phục hồi rõ nét.
Trong bối cảnh năm 2025 diễn ra nhiều sự kiện chính trị-xã hội trọng đại như kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền nam thống nhất đất nước (30/4) và 80 năm Ngày Quốc khánh (2/9), các hoạt động du lịch, văn hóa, vui chơi, giải trí được tổ chức quy mô lớn tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy tăng trưởng dịch vụ.
Tiêu dùng cuối cùng, đầu tư và xuất khẩu là ba trụ cột quan trọng cho tăng trưởng năm 2025. Tiêu dùng nội địa tiếp tục xu hướng cải thiện, thể hiện ở sự bùng nổ của thương mại điện tử với mức tăng trưởng trên 20%, đứng thứ 2 ở Đông Nam Á. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2025 tăng khoảng 9,2%, loại trừ yếu tố giá là 6,74%, du lịch phục hồi, khách quốc tế đến Việt Nam đạt hơn 21,1 triệu lượt khách, tăng 20,4% so với cùng kỳ 2024.

Sản xuất công nghiệp là điểm sáng của nền kinh tế.
Tính chung cả năm 2025, tiêu dùng cuối cùng được thúc đẩy bởi chuỗi các sự kiện chính trị-xã hội lớn của đất nước; các chương trình văn hóa, giải trí quy mô lớn, cùng với sự sôi động của hoạt động du lịch nội địa và quốc tế. Bên cạnh đó, việc tiếp tục thực hiện chính sách giảm 2% thuế giá trị gia tăng (từ 10% xuống 8%) đối với nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu đã đóng vai trò là công cụ tài khóa quan trọng, góp phần cải thiện sức mua, củng cố niềm tin tiêu dùng và duy trì đà tăng trưởng của thị trường trong nước suốt năm 2025.
Đáng chú ý, đầu tư trở thành động lực quan trọng, đặc biệt trong quý IV/2025 khi đầu tư công được thúc đẩy quyết liệt và giải ngân tập trung vào các dự án hạ tầng trọng điểm. Đến hết năm 2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện đạt 12,1% (cao hơn nhiều mức tăng 7,8% năm 2024). Trong đó, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước tăng 26,6% so với năm 2024 (năm 2024 tăng 5%) đã lan tỏa tăng trưởng tích cực đối với các ngành kinh tế liên quan, tạo động lực trong thu hút vốn đầu tư tư nhân trong nước và FDI. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực đạt 11,7%, phản ánh niềm tin tương đối ổn định của nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường kinh doanh trong nước, qua đó tạo thêm năng lực sản xuất và dư địa tăng trưởng cho nền kinh tế trong các năm tiếp theo.

Vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp dần vào quỹ đạo ổn định.
Song song, xuất nhập khẩu hàng hóa là điểm sáng trong bức tranh kinh tế. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2025 đạt mức kỷ lục hơn 930 tỷ USD, tăng 18,2% so với cùng kỳ 2024, xuất siêu 20 tỷ USD. Diễn biến này cho thấy xuất khẩu vẫn tìm thấy cơ hội trong thách thức trước bối cảnh nền kinh tế thế giới phục hồi chậm, chính sách bảo hộ gia tăng và các rào cản thuế quan khắt khe nhất là chính sách thuế đối ứng của Mỹ đối với hàng hóa Việt Nam. Đây là kết quả của sự nỗ lực đa dạng hóa thị trường, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đồng thời cho thấy năng lực cạnh tranh và khả năng duy trì đơn hàng của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam được cải thiện.
Phóng viên: Theo bà, đâu là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025?
Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Quan sát diễn biến kinh tế qua từng quý cho thấy tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 được hình thành trên cơ sở sự kết hợp của nhiều động lực. Trong đó các động lực truyền thống gồm đầu tư, sản xuất-xuất khẩu, tiêu dùng nội địa tiếp tục giữ vai trò quyết định đối với tăng trưởng, trong khi các động lực mới như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, cải cách thể chế bước đầu phát huy tác dụng mang tính hỗ trợ và tạo nền tảng cho tăng trưởng trung và dài hạn.

Ứng dụng khoa học-công nghệ trong sản xuất nông nghiệp.
Đầu tư tiếp tục là động lực then chốt của nền kinh tế, trong đó đầu tư công đóng vai trò quan trọng dẫn dắt đầu tư tư nhân và FDI tiếp tục gia tăng. Việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án hạ tầng trọng điểm trong năm 2025 không chỉ thúc đẩy xây dựng, trực tiếp gia tăng tích lũy tài sản, mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa đối với các ngành sản xuất vật liệu và dịch vụ liên quan.
Sản xuất và xuất khẩu tiếp tục là trụ cột vững chắc của tăng trưởng, khẳng định năng lực cung ứng bền bỉ của Việt Nam. Khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì đà tăng tốt, cho thấy sự phục hồi của hoạt động sản xuất và năng lực cung ứng trong nước . Bên cạnh đó, xuất khẩu vẫn tìm thấy cơ hội trong thách thức trước bối cảnh nền kinh tế phục hồi chậm, chính sách bảo hộ gia tăng và các rào cản thuế quan khắt khe nhất là chính sách thuế đối ứng của Mỹ đối với hàng hóa Việt Nam.
Tiêu dùng nội địa có xu hướng cải thiện, góp phần hỗ trợ tăng trưởng. Thói quen mua sắm đang dần thay đổi với xu hướng mua sắm trực tuyến tăng mạnh, tiêu dùng hướng đến trải nghiệm và chất lượng thay vì chỉ mua sắm hàng hóa… Mặc dù vậy, mức tăng tiêu dùng chưa thật sự mạnh và còn phân hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các nhóm dân cư, phản ánh sức mua của nền kinh tế đã phục hồi nhưng chưa hoàn toàn vững chắc, nhất là trong điều kiện chi phí sinh hoạt và áp lực tài chính của doanh nghiệp, hộ gia đình vẫn hiện hữu.
Kinh tế số tiếp tục mở rộng và lan tỏa vào nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, từ thương mại, tài chính đến logistics và dịch vụ công. Trong năm 2025, đóng góp giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt 14,02%, đây tiếp tục là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng không gian tăng trưởng và cải thiện năng suất trong trung hạn.
Khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo được thúc đẩy mạnh hơn, đặc biệt trong một số ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao. Dù vậy, tác động đến tăng trưởng kinh tế năm 2025 mới ở giai đoạn đầu, chưa tạo ra sự thay đổi rõ nét về tốc độ tăng trưởng, mà chủ yếu thể hiện ở việc cải thiện dần chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng.
Cải cách thể chế góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư. Tuy nhiên, hiệu quả của cải cách thể chế thường có độ trễ, do đó tác động tích cực trong năm 2025 chủ yếu mang tính hỗ trợ và tạo dư địa cho tăng trưởng trong các năm tiếp theo.
Có thể khẳng định rằng, tăng trưởng kinh tế năm 2025 là kết quả của sự cộng hưởng giữa phục hồi cầu trong nước, vai trò dẫn dắt của đầu tư, nhất là đầu tư công, cùng với sự cải thiện của khu vực sản xuất và dịch vụ, xuất khẩu trong bối cảnh kinh tế vĩ mô ổn định. Những kết quả này không chỉ phản ánh nỗ lực điều hành quyết liệt của Chính phủ mà còn tạo tiền đề quan trọng cho việc bước vào giai đoạn phát triển 2026-2030 với mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.
Phóng viên: Cục trưởng đánh giá như thế nào về kết quả tăng trưởng GRDP của các tỉnh, thành phố năm 2025? Những địa phương nào có đóng góp lớn vào tăng trưởng của cả nước thưa bà?
Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Tăng trưởng kinh tế của địa phương năm 2025 có xu hướng phục hồi nhưng chưa đồng đều giữa các địa phương. Một số địa phương có tốc độ tăng trưởng khá và cao, tiếp tục giữ vai trò động lực, đóng góp lớn vào tăng trưởng chung của cả nước nhưng vẫn còn những địa phương tăng trưởng thấp do chịu tác động của nhiều yếu tố như điều kiện thị trường, cơ cấu kinh tế…
Có thể chia thành 3 nhóm tăng trưởng như sau: Nhóm tỉnh có tăng trưởng đột phá chiếm 17,6% (6/34 tỉnh) đạt tốc độ tăng GRDP hơn 10%; trong đó Quảng Ninh và Hải Phòng tăng cao nhất (11,9% và 11,8%) là những tỉnh đã tận dụng tốt các dòng vốn FDI hoặc có sự bứt phá mạnh mẽ về công nghiệp và dịch vụ. Nhóm có tăng trưởng ổn định chiếm đa số khoảng 67,6% (23/34 tỉnh), tập trung chủ yếu ở mức tăng từ 7,1-9,6% phản ánh xu thế phát triển chung của nền kinh tế và các chính sách vĩ mô đang tác động lan tỏa tương đối đồng đều đến các địa phương. Nhóm tăng trưởng thấp chiếm 14,7% (5/34 tỉnh) có mức tăng từ 5,8-6,7% cho thấy tuy khó khăn nhưng không có địa phương nào rơi vào tình trạng trì trệ.

Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương.
Về động lực dẫn dắt tăng trưởng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nhiều địa phương. Những ngành có tăng trưởng cao và đóng góp lớn vào mức tăng GRDP như: sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất trang phục; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất kim loại; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; sản xuất xe có động cơ; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị... Đây là những ngành phục hồi sản xuất gắn với xuất khẩu, năng lực sản xuất tiếp tục được mở rộng tại các khu công nghiệp, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ tới các ngành liên quan như vận tải, kho bãi, thương mại.
Ngành xây dựng tiếp tục là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của GRDP tại nhiều địa phương. Tăng trưởng của ngành chủ yếu gắn với việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, triển khai các dự án hạ tầng giao thông, đô thị và xây dựng cơ bản. Hoạt động xây dựng được cải thiện đã tạo hiệu ứng lan tỏa sang các ngành sản xuất vật liệu xây dựng và các dịch vụ liên quan, qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương.
Bên cạnh đó, khu vực dịch vụ cũng đã có dấu hiệu phục hồi tích cực, nhất là tại các trung tâm du lịch và đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh Bình, Đà Nẵng, An Giang … nhờ vào chính sách kích cầu tiêu dùng nội địa và sự gia tăng đột biến của lượng khách quốc tế và khách nội địa.
Tổng kết lại, chúng tôi nhận thấy, tăng trưởng kinh tế các tỉnh có 3 đặc điểm sau:
Thứ nhất, mặt bằng tăng trưởng chung được cải thiện rõ rệt so với cùng kỳ, nhiều địa phương đạt mức tăng từ khá đến cao nhờ sản xuất công nghiệp phục hồi, xuất khẩu ổn định hơn và đầu tư công được thúc đẩy mạnh mẽ. Nhóm tỉnh công nghiệp và logistics như Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Đồng Nai, Quảng Ngãi ghi nhận GRDP tăng cao, có nơi tiệm cận hoặc vượt 10%, cho thấy vai trò đầu tàu của khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo và khả năng hấp thụ tốt dòng vốn đầu tư.
Tăng trưởng GRDP năm 2025 phản ánh xu hướng phục hồi tích cực của kinh tế địa phương nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu rõ ràng về tái cơ cấu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và tạo thêm động lực mới để các tỉnh, thành phố không chỉ tăng nhanh hơn mà còn phát triển cân bằng và bền vững hơn trong thời gian tới.
Cục trưởng Nguyễn Thị Hương.
Thứ hai, sự phân hóa về tăng trưởng kinh tế giữa các địa phương khá rõ nét. Trong khi một số tỉnh, thành phố đạt tốc độ tăng trưởng gần hoặc hơn 10% thì nhiều tỉnh, thành khác chỉ đạt mức tăng trung bình 6-8%, thậm chí thấp hơn, chủ yếu do cơ cấu kinh tế còn phụ thuộc vào ngành nông nghiệp truyền thống, dịch vụ quy mô nhỏ hoặc thiếu động lực tăng trưởng mới như Vĩnh Long, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Đắk Lắk.
Thứ ba, chất lượng tăng trưởng giữa các địa phương có sự khác biệt đáng kể: những nơi tăng trưởng cao thường có điểm chung là định hướng phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện và lợi thế so sánh của địa phương; nền tảng công nghiệp và dịch vụ tương đối vững chắc; đồng thời triển khai hiệu quả các giải pháp cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành. Trong khi các địa phương tăng chậm chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô hoặc yếu tố thời vụ, thiếu tính bền vững; cơ cấu kinh tế còn phụ thuộc vào các ngành có giá trị gia tăng thấp.
Trong bức tranh tăng trưởng GRDP năm 2025, những tỉnh đóng góp lớn nhất vào quy mô GDP toàn quốc đó là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đồng Nai và Bắc Ninh. Nhóm các địa phương này đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 9,5%, tuy không phải cao nhất về tốc độ, nhưng có ý nghĩa quyết định đến tăng trưởng GDP của cả nước. Động lực chủ yếu đến từ khu vực dịch vụ, nhất là các ngành có giá trị gia tăng cao như thương mại, tài chính ngân hàng, vận tải, logistics, du lịch, công nghệ thông tin và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất, kinh doanh; Hải Phòng đạt mức tăng trưởng kinh tế 11,81%, đóng góp 8,58% vào tăng trưởng chung của cả nước, tiếp tục khẳng định vị trí trong nhóm dẫn đầu với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định qua nhiều kỳ. Đồng Nai ghi nhận tốc độ tăng trưởng GRDP ước đạt 9,63%, đóng góp 5,49% vào tăng trưởng chung của cả nước, khẳng định vị thế là một trong những địa phương công nghiệp trọng điểm của vùng Đông Nam Bộ. Tăng trưởng GRDP của Bắc Ninh năm 2025 ước đạt 10,27%, đóng góp 5,32% vào tăng trưởng chung của cả nước.

Nhìn chung, tăng trưởng GRDP năm 2025 phản ánh xu hướng phục hồi tích cực của kinh tế địa phương nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu rõ ràng về tái cơ cấu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và tạo thêm động lực mới để các tỉnh, thành phố không chỉ tăng nhanh hơn mà còn phát triển cân bằng và bền vững hơn trong thời gian tới.
Phóng viên: Xin Cục trưởng cho biết những điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số năm 2026 và những năm tiếp theo?
Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt là kết quả tích cực, cho thấy nội lực và khả năng thích ứng của nền kinh tế Việt Nam đang dần được củng cố. Đây là điểm tựa tốt cho tăng trưởng kinh tế trong năm 2026 và những năm sau. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn mới 2026-2030, kinh tế trong nước đứng trước nhiều thách thức bất định với nhiều cơ hội đan xen thách thức, việc duy trì và đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong những năm tiếp theo đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc của cả nền kinh tế đồng thời phải hội tụ đồng bộ nhiều điều kiện quan trọng, cả về nền tảng vĩ mô, nguồn lực tăng trưởng, chất lượng phát triển và năng lực điều hành chính sách.
Trước hết, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết. Việc kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn nợ công, duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế và điều hành chính sách tài khóa-tiền tệ theo hướng linh hoạt, thận trọng sẽ góp phần tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.
Thứ hai, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho tăng trưởng giữ vai trò then chốt. Đầu tư công cần tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt, tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng then chốt, tăng cường giải ngân vốn đầu tư công đúng tiến độ, nhất là các dự án trọng điểm quốc gia, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn, tránh đầu tư dàn trải, lãng phí. Đồng thời, cần tạo điều kiện thuận lợi để khu vực đầu tư tư nhân phát triển, trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng. Việc thu hút đầu tư FDI cần được thực hiện theo hướng có chọn lọc, gắn với chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường và tăng cường liên kết với khu vực kinh tế trong nước.
Thứ ba, nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế cần chuyển dần từ mô hình dựa nhiều vào vốn và lao động sang mô hình dựa trên nâng cao năng suất, hiệu quả phân bổ nguồn lực và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững.
Thứ tư, tạo đột phá về năng suất lao động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thông qua việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ và chuyển đổi số, nhất là trong các ngành, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, qua đó gia tăng giá trị gia tăng và nâng cao chất lượng tăng trưởng; tăng cường đào tạo gắn với nhu cầu thị trường, nhất là khu vực kinh tế tư nhân và các ngành giá trị cao, để tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.
Thứ năm, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của Nhà nước. Việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, bảo đảm tính minh bạch, ổn định và nhất quán của chính sách, cùng với sự phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách vĩ mô sẽ tạo nền tảng để các động lực tăng trưởng phát huy hiệu quả.
Tóm lại, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong những năm tiếp theo, cần bảo đảm đồng thời ổn định kinh tế vĩ mô, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nâng cao chất lượng tăng trưởng, hoàn thiện thể chế và tăng cường khả năng thích ứng của nền kinh tế, bảo đảm tăng trưởng cao gắn với ổn định và phát triển bền vững trong trung và dài hạn.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Cục trưởng!











