Gỡ 'điểm nghẽn' đồng bộ: Giải bài toán lãng phí trong đầu tư nguồn điện
Không để nguồn điện thiếu đầu ra
Phát triển hệ thống điện không đơn thuần là bổ sung công suất nguồn. Một nhà máy điện dù được đầu tư với quy mô lớn nhưng nếu không thể đấu nối, truyền tải hoặc được huy động phù hợp thì hiệu quả khai thác và khả năng thu hồi vốn đều bị ảnh hưởng.
Trao đổi với PetroTimes, TS. Ngô Đức Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) cho rằng, đầu tư một nguồn điện đòi hỏi chi phí rất lớn. Vì vậy, khi nhà máy đã được xây dựng, việc khai thác nguồn điện ở mức phù hợp với khả năng kỹ thuật và nhu cầu hệ thống có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả đầu tư.

TS. Ngô Đức Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng (Bộ Công Thương).
Ông lấy ví dụ, một nhà máy có công suất 60 MW nhưng chỉ được khai thác 10-15 MW thì phần công suất còn lại chưa được phát huy, đồng nghĩa một phần vốn đầu tư chưa tạo ra hiệu quả tương xứng.
Thực tế, cơ cấu nguồn điện đang thay đổi nhanh, trong đó điện gió và điện mặt trời ngày càng đóng góp đáng kể vào hệ thống. Theo EVN, 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng điện huy động từ năng lượng tái tạo đạt khoảng 22,12 tỷ kWh, chiếm 12,9% tổng sản lượng điện toàn hệ thống.
Tuy nhiên, đặc điểm của các nguồn điện này là phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý. Những khu vực có tiềm năng gió, bức xạ mặt trời tốt không phải lúc nào cũng nằm gần các trung tâm phụ tải lớn. Khoảng cách giữa nơi sản xuất và nơi tiêu thụ đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực truyền tải, đấu nối và giải tỏa công suất.
Theo TS. Ngô Đức Lâm, cần nhìn nhận đồng bộ cả nguồn điện, lưới điện và phụ tải, thay vì chỉ tập trung bổ sung các dự án phát điện mới. Trong khi nhu cầu vốn cho phát triển lưới điện rất lớn, khả năng huy động nguồn lực của doanh nghiệp nhà nước cũng có giới hạn nhất định. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu cơ chế huy động nguồn lực xã hội, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia đầu tư những hạ tầng kết nối phù hợp giữa nguồn điện và các khu công nghiệp phụ tải lớn.
Bên cạnh lưới điện, cơ chế giá cũng là điểm nghẽn cần được tháo gỡ. Một số dự án năng lượng tái tạo được đầu tư trong giai đoạn trước hiện gặp khó khăn trong xác định giá mua điện mới. Nếu không có cơ chế phù hợp, các nhà máy dù đã hoàn thành đầu tư vẫn khó có thể khai thác tối đa công suất, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn.
Điện khí LNG cần cơ chế đủ rõ để thu hút vốn
Ở góc độ đầu tư nguồn điện mới, Anh hùng Lao động, TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam cho rằng, các dự án năng lượng cần được tính toán đồng bộ từ khâu đầu tư nguồn, hạ tầng truyền tải đến khả năng huy động công suất. Nếu không giải quyết được những điều kiện này, nguy cơ đầu tư lớn nhưng khai thác không hiệu quả sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hồi vốn.

TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam: Cần có cơ chế giá phù hợp, hợp đồng mua bán điện rõ ràng và chính sách ổn định để nhà đầu tư tính toán hiệu quả tài chính.
Ông dẫn ví dụ về các dự án điện khí LNG. Theo danh mục trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2025-2030 có 15 dự án với tổng công suất dự kiến đạt khoảng 23.074 MW; giai đoạn 2031-2035 có thêm 6 dự án với tổng công suất đạt khoảng 10.700 MW. Tuy nhiên, tiến độ triển khai nhiều dự án vẫn gặp không ít thách thức. Ngoài Nhơn Trạch 3 và 4 đã vận hành thương mại, nhiều dự án khác vẫn đang trong quá trình chuẩn bị đầu tư, hoàn thiện thủ tục hoặc triển khai các bước tiếp theo.
Theo TS. Nguyễn Hùng Dũng, phát triển điện khí LNG không chỉ là đưa dự án vào quy hoạch mà còn phụ thuộc vào khả năng thu xếp vốn, lựa chọn nhà đầu tư, xây dựng hạ tầng nhập khẩu nhiên liệu và đặc biệt là cơ chế mua bán điện.
Một dự án điện khí LNG có thể cần hơn 1 tỷ USD vốn đầu tư. Nếu công suất huy động chỉ đạt 65-70%, doanh thu bán điện có thể không đạt kỳ vọng, trong khi nhà đầu tư vẫn phải gánh chi phí vốn và vận hành. Vì vậy, nhà đầu tư cần có cơ sở rõ ràng để đánh giá khả năng huy động công suất, thanh toán tiền điện và thu hồi vốn trong suốt vòng đời dự án.
TS. Nguyễn Hùng Dũng cho rằng, cần có cơ chế giá phù hợp, hợp đồng mua bán điện rõ ràng và chính sách ổn định để nhà đầu tư tính toán hiệu quả tài chính. Suất đầu tư không thể giảm tùy ý bởi những thiết bị chủ chốt như tuabin, máy phát điện phải mua theo giá thị trường. Nếu các điều kiện đầu ra chưa được bảo đảm, nhà đầu tư sẽ tiếp tục thận trọng, khiến tiến độ dự án bị kéo dài.
Từ hai góc nhìn trên có thể thấy, điểm nghẽn trong phát triển hệ thống điện không chỉ nằm ở khâu phát triển nguồn hay xây dựng lưới truyền tải, mà còn ở sự thiếu đồng bộ giữa các cấu phần của hệ thống. Nguồn điện cần có hạ tầng đấu nối và khả năng giải tỏa công suất; lưới điện cần được đầu tư phù hợp với tiến độ nguồn và nhu cầu phụ tải; còn nhà đầu tư cần cơ chế giá và thị trường minh bạch để bảo đảm hiệu quả tài chính.
Vì vậy, cùng với việc tiếp tục phát triển các nguồn điện mới, cần ưu tiên tháo gỡ những vướng mắc đang khiến nguồn điện hiện hữu chưa được khai thác tối đa. Đây là điều kiện để hạn chế lãng phí vốn xã hội, nâng cao hiệu quả đầu tư và tạo nền tảng thu hút dòng vốn mới vào hệ thống điện.
