Gỡ điểm nghẽn thể chế, huy động nguồn lực cho hệ thống điện
Để bảo đảm đủ điện cho mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên, bài toán của ngành điện không chỉ nằm ở quy mô đầu tư hàng trăm nghìn tỷ đồng. Tiến độ dự án, cơ chế huy động vốn, giải phóng mặt bằng, thị trường điện và quản lý nhu cầu đều cần được tháo gỡ đồng bộ.
“Nút thắt” không chỉ nằm ở vốn
Bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định đang trở thành yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn 2026-2030, khi nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, nhu cầu điện có thể tăng 10,5-12,9%/năm. Để đáp ứng nhu cầu này, hệ thống phải bổ sung gần 90.000 MW nguồn điện mới cùng hệ thống lưới truyền tải tương ứng.
Quy mô đầu tư vì vậy rất lớn. Tuy nhiên, vốn không phải là điểm nghẽn duy nhất. Với các dự án điện, đặc biệt là dự án nguồn và lưới quy mô lớn, thời gian chuẩn bị đầu tư, thủ tục đất đai, môi trường, quy hoạch và giải phóng mặt bằng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ đưa công trình vào vận hành.

Tọa đàm “Bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng hai con số”.
Tại tọa đàm “Bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng hai con số” do Báo Công Thương tổ chức ngày 27/8, đại diện các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và chuyên gia đều nhấn mạnh yêu cầu tháo gỡ đồng thời các điểm nghẽn này.
Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực, Bộ Công Thương, cho biết Bộ đang khẩn trương rà soát, điều chỉnh cơ cấu nguồn điện giữa các vùng miền, đồng thời đẩy nhanh việc ban hành khung giá phát điện cho năng lượng tái tạo năm 2026.
Cùng với đó, cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) tiếp tục được hoàn thiện nhằm tạo hành lang pháp lý minh bạch, qua đó thu hút thêm nguồn lực xã hội đầu tư vào ngành điện.
Đây là hướng đi quan trọng trong bối cảnh nhu cầu vốn cho phát triển hệ thống điện ngày càng lớn, trong khi Nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước không thể một mình đáp ứng toàn bộ nhu cầu đầu tư. Ở vai trò nòng cốt trong bảo đảm an ninh năng lượng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã xây dựng kế hoạch đầu tư giai đoạn 2026-2030 với tổng vốn lên tới 830.000 tỷ đồng.
Theo ông Trịnh Quang Ninh, Phó trưởng Ban Kế hoạch EVN, Tập đoàn tập trung hoàn thành 15 dự án nguồn điện trọng điểm với tổng công suất hơn 6.000 MW. Trong danh mục này có Nhiệt điện Quảng Trạch 1, LNG Quảng Trạch 2, các dự án thủy điện mở rộng Trị An, Tuyên Quang, Se San 3, Se San 4 và Thủy điện tích năng Bác Ái.
EVN cũng dự kiến triển khai khoảng 2.000 MW hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS), đồng thời đưa vào vận hành gần 300 dự án lưới điện truyền tải 220-500 kV. Theo đại diện EVN, cần có cơ chế đặc thù để xử lý liên thông, song song các thủ tục về đất đai, quy hoạch và môi trường. Cùng với đó, sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương trong giải phóng mặt bằng là yếu tố then chốt để các dự án không bị kéo dài.
Điện “thông minh” từ cả phía cung và cầu
Nếu phát triển nguồn và lưới là giải pháp căn bản để mở rộng năng lực cung ứng, quản lý nhu cầu điện lại có thể tạo hiệu quả nhanh hơn trong ngắn hạn.
Chuyên gia năng lượng Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh, cho rằng bên cạnh vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, việc tháo gỡ vướng mắc thể chế để tạo sự thống nhất trong thực thi tại các địa phương là giải pháp cấp bách.

Đảm bảo cung cấp đầy đủ và an toàn các nguồn điện.
Theo ông, cần phát huy tối đa nguồn điện phân tán, đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng và ứng dụng công nghệ lưu trữ để giảm hệ số đàn hồi năng lượng.
Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Thay vì chỉ tìm cách đáp ứng mọi mức tăng của phụ tải bằng nguồn điện mới, hệ thống cần đồng thời giảm nhu cầu điện tại thời điểm cao điểm và nâng hiệu quả sử dụng năng lượng.
Điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu kết hợp lưu trữ có thể góp phần giảm áp lực lên lưới vào những thời điểm nhất định. Quản lý phụ tải (DSM), điều chỉnh biểu giá điện theo giờ và khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ cũng giúp dịch chuyển hoặc giảm nhu cầu vào các thời điểm hệ thống chịu tải cao.
Đặc biệt, khi tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng tăng, BESS và các nguồn điện linh hoạt sẽ trở thành một phần quan trọng trong việc cân bằng hệ thống.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi ngành điện phải chuyển từ tư duy bảo đảm “đủ điện” sang bảo đảm đủ điện, an toàn, linh hoạt và hiệu quả. Điều này cần một hệ sinh thái chính sách nhất quán, trong đó quy hoạch, đầu tư nguồn - lưới, cơ chế giá, thị trường điện, lưu trữ năng lượng và quản lý phụ tải được thiết kế đồng bộ.
Nếu các điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ, tiến độ dự án được rút ngắn và nguồn lực xã hội được huy động hiệu quả, hệ thống điện sẽ có thêm dư địa để đáp ứng tốc độ tăng trưởng phụ tải cao. Ngược lại, mỗi dự án chậm tiến độ, mỗi điểm nghẽn trên lưới hay mỗi cơ chế chưa hoàn thiện đều có thể làm thu hẹp “dư địa điện” của nền kinh tế.
Trong cuộc đua tăng trưởng mới, bảo đảm an ninh năng lượng không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành điện. Đây là bài toán tổng thể đòi hỏi sự phối hợp của Nhà nước, doanh nghiệp và người sử dụng năng lượng.
Một hệ thống điện mạnh phải được xây dựng bằng cả nguồn lực đầu tư, năng lực quản trị và hiệu quả sử dụng. Đó chính là nền tảng để điện năng thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng nhanh và bền vững.

