Gỡ điểm nghẽn thị trường lao động, tạo động lực tăng trưởng
Việt Nam đang sở hữu lực lượng lao động dồi dào với hơn 54 triệu người, mang lại cơ hội lớn cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, tỷ lệ qua đào tạo còn thấp, vị thế chưa cao trong chuỗi giá trị toàn cầu, hiện tượng “di cư con lắc” và khoảng 1,6 triệu thanh niên thuộc nhóm “3 không” đang tạo ra những điểm nghẽn lớn, đòi hỏi các giải pháp tháo gỡ đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm, góp phần thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng độ bao phủ giáo dục và đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường phải là ưu tiên hàng đầu. Ảnh: chinhphu.vn
Bẫy giá trị gia tăng thấp và thực trạng “đường cong nụ cười”
Trong suốt hai thập kỷ qua, dù quy mô lực lượng lao động của Việt Nam đã tăng lên gần 54 triệu người trong độ tuổi lao động, tỷ lệ lao động từng qua đào tạo hiện nay mới chỉ đạt khoảng 30%. Nghiên cứu thực tiễn đã chỉ ra rằng, việc thiếu hụt kỹ năng và trình độ chuyên môn chính là nguyên nhân trực tiếp lý giải vì sao năng suất lao động của Việt Nam vẫn duy trì ở mức thấp so với các quốc gia trong khu vực.
Thực tế cho thấy, năng suất lao động của toàn nền kinh tế dù có sự cải thiện qua các năm, từ 201 triệu đồng/lao động (năm 2023) tăng lên 222 triệu đồng/lao động (năm 2024) và ước đạt khoảng 245 triệu đồng/lao động vào năm 2025 nhưng khoảng cách so với khu vực vẫn còn rất xa. Năng suất lao động của nước ta hiện chỉ bằng khoảng 60% Thái Lan, 40% Malaysia và chưa bằng 1/10 so với Singapore.
GS, TS. Giang Thanh Long - Giảng viên cao cấp, Đại học Kinh tế Quốc dân - cho rằng, năng suất lao động thấp kéo theo hệ lụy về vị thế kinh tế: Việt Nam đang nằm ở vùng trũng của “đường cong nụ cười” (“Smiling Curve”) trong các ngành sản xuất. Vùng trũng này đại diện cho công đoạn tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Ở công đoạn đầu, chúng ta chưa tạo ra được sản phẩm mới hay thực hiện các hoạt động đổi mới sáng tạo. Đồng thời, ở công đoạn cuối, Việt Nam cũng tham gia chưa nhiều vào mạng lưới logistics hoặc các hoạt động bán hàng, phân phối. Sự phụ thuộc vào khâu gia công lắp ráp đơn thuần trong suốt 20 năm qua đã trở thành một vấn đề lớn, cản trở thị trường lao động bứt phá.
Do đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng độ bao phủ giáo dục và đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường phải là ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn mới. Điều này không chỉ giúp người lao động có việc làm ổn định, mà còn tạo tiền đề để giảm bớt tỷ lệ lao động phi chính thức và đưa nền kinh tế thoát khỏi bẫy giá trị gia tăng thấp.
Thách thức quản trị lao động di cư
Cùng với quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ và gắn liền với các dòng di cư. Quá trình này làm thay đổi sâu sắc cấu trúc dân số ở cả khu vực thành thị lẫn nông thôn. Đáng chú ý, nhờ hệ thống giao thông đi lại ngày càng thuận tiện, thị trường lao động Việt Nam ngày càng chứng kiến nhiều hơn nhóm lao động “di cư con lắc” (circular migrants) - những người lao động này liên tục di chuyển, chạy đi chạy lại giữa các tỉnh/thành phố và các vùng kinh tế lân cận thay vì làm việc ở một nơi cố định.
Theo GS. TS. Giang Thanh Long, sự dịch chuyển liên tục của lực lượng “di cư con lắc” tạo ra những tác động hai mặt. Một mặt, nó thúc đẩy các hoạt động kinh tế ngắn hạn diễn ra linh hoạt. Nhưng mặt khác, xu hướng này lại khiến cho khu vực kinh tế phi chính thức ngày càng phát triển và mở rộng quy mô. Việc lao động di cư tập trung vào khu vực phi chính thức với mức độ biến động dân cư lớn đang gây ra khó khăn nghiêm trọng cho công tác quản lý nhà nước. Các cơ quan chức năng khó theo dõi, quản lý nhân khẩu và gần như không thể theo đuổi để thu các nguồn thu ngân sách liên quan, tiêu biểu là thuế thu nhập cá nhân từ nhóm đối tượng này.
Nguy cơ lãng phí nguồn lực
Theo Cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2026, dù lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đạt mức 53,7 triệu người, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt 29,7%. Thách thức lớn hơn nằm ở lực lượng lao động trẻ, khi tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) lên tới 8,77%, riêng khu vực thành thị chạm mốc 10,21%.
Cục Thống kê cho biết, trong quý III/2026, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên Việt Nam trong độ tuổi từ 15 - 24 tuổi chiếm 9,07%, cao hơn 4 lần so với tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước (2,22%). 1,6 triệu thanh niên “3 không” (NEET) - không có việc làm, không tham gia học tập, không đào tạo, chiếm hơn 11% tổng số thanh niên cả nước. Tỷ lệ này tuy thấp hơn mức bình quân thế giới (20%) và khu vực (16%) nhưng vẫn là mức cao.
“Đây là vấn đề cần được quan tâm đầy đủ trong đánh giá chất lượng nguồn nhân lực và trong kế hoạch phát triển của các năm tới” - đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Đại biểu Quốc hội TP. Hải Phòng) nhấn mạnh tại phiên thảo luận tổ về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027 trong khuôn khổ Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.
Để tháo gỡ điểm nghẽn này, GS, TS. Giang Thanh Long cho rằng cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về lực lượng lao động trẻ và “di cư con lắc”, đồng thời thiết kế các chương trình đào tạo lại kỹ năng số, kỹ năng nghề ngắn hạn có chính sách hỗ trợ tài chính để kích hoạt nhóm thanh niên NEET quay trở lại thị trường lao động.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải cho biết, Bộ đang tiếp tục thực hiện một số giải pháp như: Tiếp tục tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả các quy định, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lao động, việc làm, trong đó có việc triển khai Kết luận 62 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về nâng cao năng suất lao động gắn với phát triển thị trường lao động đồng bộ hiện đại, hiệu quả trong tình hình mới; Thông báo Kết luận số 123 của Văn phòng Trung ương Đảng về các giải pháp tạo việc làm bền vững ở nông thôn, đô thị và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bộ chủ động theo dõi diễn biến của thị trường lao động trong nước, ngoài nước để nâng cao chất lượng phân tích thông tin, dự báo thị trường lao động, xây dựng cơ sở dữ liệu về người lao động, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và sàn giao dịch việc làm quốc gia để nâng cao hiệu quả kết nối cung - cầu lao động; phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo để đảm bảo đào tạo, nhất là dạy nghề, luôn phải gắn với thị trường lao động; nâng cao chất lượng lao động thanh niên làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Bộ Nội vụ cũng sẽ yêu cầu các tổ chức dịch vụ việc làm công phối hợp với các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp, chính quyền địa phương đẩy mạnh việc tư vấn định hướng nghề nghiệp, giới thiệu việc làm cho thanh niên, nhất là đối với học sinh sinh viên mới ra trường…
Về phía Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho biết, ngành giáo dục đang xây dựng chính sách, hoàn thiện các luật liên quan, trong đó có Luật Giáo dục và Luật Giáo dục nghề nghiệp, đồng thời tham mưu Chính phủ ban hành các cơ chế triển khai; các địa phương cần chủ động tìm hiểu, vận dụng những cơ chế hiện đã có để triển khai đặt hàng đào tạo theo kết quả đầu ra...
Các giải pháp trên cần được triển khai đồng bộ, gắn trách nhiệm cụ thể với từng Bộ, ngành, cơ quan, địa phương và tăng cường sự phối hợp giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp; qua đó từng bước tháo gỡ những điểm nghẽn của thị trường lao động, phát huy hiệu quả nguồn nhân lực và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn./.
