Gỡ nút thắt để doanh nghiệp logistics vươn xa
Nâng năng lực cung cấp dịch vụ tích hợp, ứng dụng công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế là hướng đi để doanh nghiệp logistics Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Cùng với nỗ lực của doanh nghiệp, việc tháo gỡ vướng mắc về thủ tục và kết nối xuyên biên giới sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường, gia tăng giá trị dịch vụ.
Nâng năng lực để trở thành đối tác quốc tế
Tại Diễn đàn Logistics Việt Nam 2026, tổ chức ngày 7/11 ở Gia Lai, ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), cho rằng phát triển logistics cần được đánh giá bằng khả năng tạo thêm và giữ lại giá trị tại Việt Nam.

Ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, trình bày tham luận.
Theo ông Hải, doanh nghiệp trong nước cần đảm nhận tốt hơn các dịch vụ bảo quản, giao nhận quốc tế, phân phối và quản trị chuỗi cung ứng để nâng chất lượng hàng hóa, năng lực giao hàng và doanh thu dịch vụ.
Ông lưu ý doanh nghiệp cần quan tâm đến tổng chi phí và độ tin cậy của toàn bộ hành trình, bao gồm phụ phí, thời gian chờ và lượng vốn bị giữ trong hàng tồn kho, thay vì chỉ so sánh giá cước vận chuyển.
Về cơ hội tham gia thị trường, ông Trần Tiến Dũng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), cho rằng doanh nghiệp có thể tiến sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu thông qua phục vụ các tập đoàn quốc tế đang sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam. Mở rộng khách hàng, đối tác và hiện diện ở nước ngoài là hướng phát triển bổ trợ, tùy năng lực của từng doanh nghiệp.

Ông Trần Tiến Dũng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, trình bày tham luận.
Theo ông Dũng, doanh nghiệp có thể phát triển theo hướng đối tác chuyên môn sâu, nhà tích hợp giải pháp hoặc xây dựng mạng lưới kinh doanh quốc tế, tùy thế mạnh và khách hàng. Quy mô hiện diện không phải lợi thế duy nhất; chuyên môn và chất lượng hợp tác cũng tạo ra giá trị. Trước khi mở rộng, doanh nghiệp cần xác định nhu cầu khách hàng, khả năng thực hiện và nguồn lực phù hợp.
Khách hàng ngày càng đòi hỏi giao hàng đúng cam kết, dữ liệu minh bạch và khả năng phối hợp khi xảy ra gián đoạn. Vì vậy, đơn vị logistics cần đủ năng lực thiết kế mạng lưới, quản trị vận hành, pháp lý, tài chính và an ninh dữ liệu để cùng chủ hàng cân đối tổng chi phí, chất lượng và rủi ro.
GS.TS Thomas Sim - Chủ tịch Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Giao nhận (FIATA), nhận định doanh nghiệp giao nhận đang chuyển từ vai trò trung gian vận chuyển sang đơn vị tích hợp chuỗi cung ứng.
Theo ông Thomas Sim, thương mại toàn cầu đang được tái cấu trúc, doanh nghiệp có xu hướng đa dạng hóa nguồn cung, địa điểm sản xuất và tuyến vận tải. Ngoài thu xếp vận chuyển và xử lý chứng từ, nhà cung cấp dịch vụ logistics phải kết nối kho bãi, thủ tục hải quan, thông tin số và quản trị rủi ro.

GS.TS Thomas Sim - Chủ tịch Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Giao nhận, chia sẻ thông tin.
Ông Thomas Sim nhấn mạnh chuyển đổi số phải tạo sự liên thông giữa chủ hàng, đơn vị vận tải, cảng, kho và hải quan. Thay chứng từ giấy bằng chứng từ điện tử chưa đủ nếu các bên vẫn sử dụng hệ thống thông tin tách biệt.
Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ dự báo nhu cầu, nhận diện nguy cơ ùn tắc cảng, chậm tàu và lựa chọn tuyến thay thế. Tuy nhiên, hiệu quả ứng dụng phụ thuộc chất lượng dữ liệu, quy trình vận hành và trình độ nhân lực.
Gỡ điểm nghẽn logistics xuyên biên giới
Để mở rộng dịch vụ ra thị trường khu vực, doanh nghiệp cần những tuyến vận tải thông suốt, thủ tục nhất quán và dữ liệu được trao đổi giữa các bên. Những vướng mắc tại cửa khẩu và trên hành trình quá cảnh đang làm tăng thời gian, chi phí, ảnh hưởng đến khả năng cung cấp dịch vụ xuyên suốt cho khách hàng.

Ông Chhieng Pich - Phó Quốc vụ khanh Bộ Giao thông Công chính Vương quốc Campuchia, trao đổi thông tin.
Ông Chhieng Pich - Phó Quốc vụ khanh Bộ Giao thông Công chính Vương quốc Campuchia, cho rằng Việt Nam, Lào và Campuchia có nhiều lợi thế bổ trợ về vị trí địa lý, sản xuất và thương mại. Các hành lang kinh tế Đông - Tây và phía Nam có tiềm năng kết nối vùng sản xuất, khu công nghiệp, cửa khẩu với hệ thống cảng biển quốc tế.
Tuy nhiên, tình trạng chậm trễ tại cửa khẩu, thủ tục hải quan thiếu đồng bộ, hạ tầng chuỗi lạnh còn hạn chế và khả năng tích hợp vận tải đa phương thức chưa cao đang ảnh hưởng đến hiệu quả lưu thông hàng hóa.
Theo ông Chhieng Pich, đầu tư hạ tầng phải đi cùng cải cách thủ tục, tăng cường trao đổi dữ liệu và phối hợp giữa cơ quan chức năng các nước. Việc phát triển cảng cạn, trung tâm logistics, kho lạnh và vận tải đa phương thức sẽ giúp hàng hóa từ các vùng sản xuất tiếp cận thị trường quốc tế thuận lợi hơn.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Nguyễn Xuân Thảo - Giám đốc Logistics Tập đoàn Gemadept, chỉ ra ba nhóm vướng mắc tại miền Trung - Tây Nguyên gồm kết nối chuỗi chưa đồng bộ, thủ tục quá cảnh và dữ liệu thiếu liên thông. Khi thay đổi phương tiện, lịch trình hoặc điểm trung chuyển, doanh nghiệp có thể phát sinh thêm thủ tục; nhiều khâu vẫn yêu cầu khai lại thông tin.
Ông Thảo kiến nghị tinh gọn hồ sơ, giảm xử lý trùng lặp giữa các cơ quan, áp dụng quản lý rủi ro và xác lập đầu mối, thời hạn giải quyết vướng mắc. Dữ liệu giữa cửa khẩu, hải quan, kho bãi, doanh nghiệp vận tải và cảng biển cần được kết nối để theo dõi lô hàng xuyên suốt hành trình.
Với tuyến vận tải thủy Việt Nam - Campuchia, đại diện Gemadept cho biết thời gian làm thủ tục tại một số cửa khẩu như Vĩnh Xương, Thường Phước còn hạn chế. Sà lan đến sau 17 giờ có thể phải neo chờ, kéo dài hành trình và phát sinh chi phí. Doanh nghiệp đề xuất mở rộng thời gian làm thủ tục đến 22 giờ hằng ngày, bố trí xử lý ngoài giờ, hướng tới cơ chế phục vụ 24/7 tại các cửa khẩu đường thủy trọng điểm.

Tàu hàng cập cảng Thị Nại, phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai.
Gemadept cũng đề nghị rà soát yêu cầu khai báo đối với hàng quá cảnh, giảm kiểm tra trùng lặp; ưu tiên nguồn lực duy tu, nạo vét và khuyến khích tư nhân tham gia vận tải thủy nội địa.
Các kiến nghị của Gemadept hướng tới giảm thời gian chờ, nâng độ tin cậy của tuyến vận tải và tạo điều kiện để doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới ổn định. Đây cũng là những yêu cầu thiết thực để doanh nghiệp logistics Việt Nam mở rộng hợp tác và đảm nhận nhiều công đoạn hơn trong chuỗi cung ứng quốc tế.
