Gỡ nút thắt nguồn vật liệu xây dựng
Thái Nguyên đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh với hàng loạt dự án giao thông, công nghiệp, đô thị và hạ tầng được triển khai. Nhu cầu đất san lấp, cát, sỏi, đá xây dựng vì thế ngày càng tăng, trong khi khả năng khai thác và cung ứng chưa theo kịp thực tế. Nguồn tài nguyên còn khá lớn nhưng chưa được chuyển hóa tương xứng thành nguồn vật liệu phục vụ công trường, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn cung, đáp ứng nhu cầu phát triển.

Việc bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng ổn định, kịp thời là yêu cầu đặt ra trong quá trình đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh. Trong ảnh: Mỏ cát kết của Công ty TNHH Hằng Ngọc Tú (phường Phúc Thuận).
Nguồn cung chưa theo kịp nhịp phát triển
Theo Quy hoạch tỉnh Thái Nguyên điều chỉnh, nguồn tài nguyên làm vật liệu xây dựng thông thường trên địa bàn khá phong phú, với 94 mỏ đá vôi, 57 mỏ cát sỏi, 14 mỏ đá cát kết và 50 mỏ đất san lấp được đưa vào quy hoạch. Những con số này cho thấy tỉnh không thiếu nguồn vật liệu. Vấn đề nằm ở khả năng khai thác và cung ứng trên thực tế.
Tại nhiều khu vực, đặc biệt là nơi tập trung các dự án giao thông và hạ tầng lớn, nhu cầu vật liệu tăng nhanh. Đất san lấp cần cho nền đường, khu đô thị, khu công nghiệp; đá phục vụ nền, mặt đường và bê tông; cát, sỏi phục vụ xây dựng dân dụng và các công trình hạ tầng. Khi nhiều dự án cùng bước vào giai đoạn cao điểm, sức ép lên các mỏ đang hoạt động ngày càng lớn.
Thực tế này từng được phản ánh rõ tại khu vực phía Nam tỉnh, nơi nhiều công trình trọng điểm triển khai đồng thời. Có những mỏ đất, mỏ đá, mỏ cát còn trữ lượng lớn nhưng công suất được cấp phép thấp, chưa thể đáp ứng ngay nhu cầu thị trường.
Cụ thể, mỏ cát kết của Công ty TNHH Hằng Ngọc Tú ở phường Phúc Thuận có diện tích 1,3ha, trữ lượng gần 700.000m3 nhưng chỉ được cấp phép khai thác 1.750m3/tháng, tương đương 2.000m3/năm. Công ty đang đề nghị nâng công suất lên 11.000m3/tháng, tương đương 132.000m3/năm.
Theo ông Nguyễn Ngọc Thụ, quản lý mỏ, nhu cầu tiêu thụ vật liệu trên địa bàn hiện rất lớn, trong khi công suất được cấp phép chưa tương xứng với khả năng khai thác và nhu cầu thị trường. Doanh nghiệp mong muốn được xem xét nâng công suất trên cơ sở trữ lượng còn lại, năng lực thiết bị và nhu cầu thực tế của các công trình.

Nguồn cung cát chưa đáp ứng nhu cầu khiến nhiều dự án lớn tại Thái Nguyên phải nhập vật liệu từ các tỉnh lân cận.
Từ trường hợp trên có thể thấy, nguồn tài nguyên trong quy hoạch chưa đồng nghĩa với nguồn cung sẵn sàng cho thị trường. Công suất khai thác thấp, thủ tục điều chỉnh kéo dài hoặc những vướng mắc trong quá trình tổ chức khai thác đều có thể làm hạn chế khả năng cung ứng vật liệu.
Khi nhiều dự án cùng triển khai, khoảng cách giữa nhu cầu và sản lượng khai thác càng bộc lộ rõ. Nếu không có giải pháp kịp thời để nâng khả năng cung ứng từ những mỏ đang hoạt động, áp lực về vật liệu sẽ tiếp tục tác động đến thị trường, nhất là tại các khu vực tập trung nhiều công trình lớn.
Không để mỏ "nằm" trên giấy phép
Một vấn đề đáng chú ý khác là có những mỏ đã được cấp phép nhưng nhiều năm vẫn chưa thể khai thác. Mỏ cát sỏi tại khu vực Nga My và Hà Châu là trường hợp điển hình. Dự án được cấp giấy phép khai thác từ ngày 3/7/2017, thời hạn 10 năm, với trữ lượng khai thác gần 700.000m3 và công suất 36.000m3/năm.
Tuy nhiên, do vướng mắc trong quá trình triển khai, đến nay dự án vẫn chưa tạo ra nguồn cung như kỳ vọng. Doanh nghiệp đã bỏ vốn, hoàn thiện các thủ tục pháp lý, thực hiện nghĩa vụ tài chính nhưng việc đưa máy móc vào khai thác gặp sự phản đối của người dân địa phương. Hệ quả là thời gian khai thác theo giấy phép tiếp tục trôi đi, trong khi nguồn tài nguyên vẫn nằm dưới lòng đất và nhu cầu vật liệu trên thị trường ngày càng tăng.

Dự án đường cao tốc Chợ Mới - Bắc Kạn đang được triển khai, cần lượng lớn vật liệu xây dựng phục vụ thi công.
Ông Nguyễn Văn Cường, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh, cho rằng: Tình trạng mỏ được cấp phép nhưng không thể tổ chức khai thác gây lãng phí nguồn lực xã hội và làm mất cơ hội phát triển. Doanh nghiệp đã đầu tư nhưng không khai thác được sẽ chịu thiệt hại, trong khi các công trình phải tìm nguồn vật liệu thay thế, thậm chí mua cát từ các tỉnh ngoài với chi phí vận chuyển cao hơn.
Từ thực tế này, yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước là việc cấp phép cần gắn với khả năng tổ chức khai thác trên thực tế. Khi một mỏ được đưa vào quy hoạch và cấp phép, các điều kiện liên quan đến đường vào mỏ, mặt bằng, đất đai và sự đồng thuận của cộng đồng dân cư cần được tính toán đồng bộ. Nếu doanh nghiệp có giấy phép nhưng không có đường vào hoặc không thể tiếp cận khu vực khai thác thì giấy phép chưa thể chuyển hóa thành nguồn cung thực tế.
Theo lãnh đạo ngành Nông nghiệp và Môi trường, một trong những vấn đề cần tập trung giải quyết là tình trạng “có mỏ nhưng chưa có vật liệu”. Với những trường hợp doanh nghiệp đã được cấp phép nhưng chưa thể đưa mỏ vào khai thác do vướng đường vào, mặt bằng hoặc các vấn đề liên quan đến sự đồng thuận của người dân, ngành chức năng sẽ phối hợp với chính quyền địa phương rà soát, xác định rõ nguyên nhân và trách nhiệm của từng bên để tìm phương án tháo gỡ.
Việc này cần được thực hiện theo từng trường hợp cụ thể, bảo đảm hài hòa giữa quyền lợi của doanh nghiệp, yêu cầu phát triển các công trình và lợi ích của cộng đồng dân cư. Mục tiêu là đưa những mỏ đã được cấp phép, đủ điều kiện khai thác vào hoạt động, tránh tình trạng nguồn tài nguyên còn đó nhưng không thể tạo ra sản lượng phục vụ thị trường.
Cùng với những mỏ chưa thể khai thác, các mỏ đang hoạt động nhưng chưa khai thác hết công suất cũng cần được rà soát. Đây là nguồn có khả năng bổ sung sản lượng trong thời gian ngắn nếu được tháo gỡ kịp thời các vướng mắc về thủ tục, thiết bị, mặt bằng và tổ chức khai thác.
Khơi thông nguồn cung
Trước sức ép ngày càng lớn về vật liệu, Thái Nguyên đang triển khai những giải pháp mới, trong đó đáng chú ý là cơ chế đặc thù phục vụ trực tiếp các dự án, công trình. Theo hướng dẫn của Sở Nông nghiệp và Môi trường ban hành ngày 7/7/2026, đối với các dự án thuộc nhóm được áp dụng cơ chế đặc thù, doanh nghiệp có thể thực hiện thủ tục nâng công suất các mỏ đã được cấp phép để cung cấp vật liệu trực tiếp cho công trình.
Việc nâng công suất phải xác định rõ công trình sử dụng vật liệu, khối lượng, thời gian và có hợp đồng cung cấp với chủ đầu tư hoặc nhà thầu. Khi công trình hoàn thành, việc nâng công suất cũng phải dừng theo kế hoạch.

Các công trình hạ tầng đô thị đồng loạt triển khai, kéo theo nhu cầu lớn về đất san lấp và các loại vật liệu xây dựng.
Đáng chú ý, việc cấp phép mới đối với khoáng sản nhóm III, nhóm IV phục vụ các công trình, dự án thuộc diện đặc thù có thể không phải căn cứ vào phương án quản lý khoáng sản trong quy hoạch tỉnh, đồng thời được thực hiện theo cơ chế rút gọn đối với một số thủ tục đầu tư, môi trường theo quy định. Khoáng sản được cấp phép phải phục vụ đúng công trình, dự án đã xác định, tránh tình trạng lợi dụng cơ chế đặc thù để khai thác, tiêu thụ ngoài mục đích.
Ông Đỗ Công Hanh, Phó Chủ tịch UBND phường Phúc Thuận, cho rằng: Cơ chế đặc thù là hướng đi cần thiết trong bối cảnh nhu cầu vật liệu phục vụ các dự án tăng cao. Việc tháo gỡ thủ tục phải đi đôi với quản lý chặt chẽ, bảo đảm khai thác đúng phạm vi, công suất, mục đích và kiểm soát tốt các yêu cầu về môi trường, an toàn. Nhu cầu vật liệu cấp thiết đòi hỏi các thủ tục phải được xử lý phù hợp với thực tế, nhưng hoạt động khai thác vẫn phải nằm trong khuôn khổ pháp luật, bảo đảm môi trường, an toàn và quyền lợi của cộng đồng dân cư.
Việc tháo gỡ nguồn cung vật liệu xây dựng thông thường phải được thực hiện đồng bộ, từ quy hoạch, thăm dò, cấp phép đến tổ chức khai thác và tiêu thụ. Đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Sở đang rà soát tổng thể các mỏ khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường trên địa bàn, nhất là những mỏ đã được cấp phép nhưng chưa khai thác, khai thác chưa hết công suất hoặc còn gặp vướng mắc về thủ tục, mặt bằng, đường vào mỏ. Trên cơ sở đó, từng trường hợp sẽ được phân loại để có giải pháp phù hợp.
Đối với những mỏ còn trữ lượng, có đủ điều kiện về môi trường, thiết bị và năng lực khai thác nhưng công suất được cấp phép chưa đáp ứng nhu cầu thực tế, Sở sẽ hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện các thủ tục điều chỉnh, nâng công suất theo quy định, ưu tiên những nguồn vật liệu phục vụ trực tiếp các công trình, dự án trọng điểm.

Cụm công nghiệp Yên Lạc (xã Phú Lương) có nhu cầu rất cao về đá, cát, sỏi để hoàn thành đúng tiến độ.
Đối với các dự án thuộc diện được áp dụng cơ chế đặc thù, tỉnh sẽ tạo điều kiện rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục cần thiết, bảo đảm vật liệu được đưa đến công trường đúng tiến độ, đồng thời kiểm soát chặt chẽ khối lượng, công suất và mục đích sử dụng.
Trong tháng 6 và tháng 7-2026, Sở đã tiếp nhận, xử lý nhiều hồ sơ liên quan đến thăm dò, khai thác và đánh giá tác động môi trường đối với các mỏ vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các dự án trên địa bàn.
Cùng với khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên trong tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp với các sở, ngành, địa phương theo dõi sát cung cầu, sản lượng khai thác và tình hình tiêu thụ vật liệu, kịp thời tham mưu UBND tỉnh điều chỉnh phương án cung ứng khi xuất hiện nguy cơ thiếu hụt cục bộ.
Việc tăng nguồn cung phải đi liền với kiểm soát chặt hoạt động khai thác, bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn và ngăn chặn tình trạng lợi dụng cơ chế đặc thù để khai thác vượt phạm vi, vượt công suất hoặc đưa khoáng sản ra ngoài mục đích phục vụ dự án.
Về lâu dài, giải pháp căn cơ vẫn là nâng cao năng lực khai thác các mỏ hiện có, đồng thời chuẩn bị nguồn mỏ mới theo quy hoạch; giải quyết sớm các điểm nghẽn về thủ tục, đất đai, giao thông kết nối và môi trường. Khi nguồn cung được khơi thông, sản lượng tăng lên, cạnh tranh trên thị trường được cải thiện, áp lực tăng giá sẽ từng bước được kiểm soát, qua đó giảm chi phí cho doanh nghiệp xây dựng và góp phần bảo đảm tiến độ những công trình đang tạo diện mạo mới cho Thái Nguyên.
Thái Nguyên đang đứng trước dư địa phát triển lớn, song để các công trình triển khai đúng tiến độ, nguồn vật liệu phải được bảo đảm ổn định, kịp thời. Vì vậy, cần khai thác hiệu quả các mỏ hiện có, nâng công suất ở những nơi còn khả năng, tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục, mặt bằng, đường vào mỏ, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác, bảo vệ môi trường và bảo đảm lợi ích cộng đồng.
Khi nguồn cung được khơi thông, tài nguyên từ lòng đất sẽ được chuyển hóa thành nguồn lực phục vụ phát triển, góp phần kiểm soát chi phí, bảo đảm tiến độ các dự án và tạo thêm động lực cho Thái Nguyên phát triển nhanh, bền vững.












