Gỡ rào cản pháp lý, thuốc mới có thể vào Việt Nam chỉ sau 1-2 năm
Khung pháp lý ngành dược tại Việt Nam được đánh giá đang tiến gần hơn với chuẩn quốc tế, giúp rút ngắn đáng kể thời gian đưa thuốc mới ra thị trường. Nhiều loại thuốc hiện chỉ mất 1-2 năm để vào Việt Nam sau khi được phê duyệt toàn cầu, thay vì phải chờ ít nhất 5 năm như trước.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để thu hút thêm các tập đoàn dược đa quốc gia, Việt Nam vẫn cần cải thiện hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Với môi trường pháp lý cải thiện, thuốc mới có thể vào Việt Nam chỉ sau 1-2 năm. Ảnh minh họa: TL
Trong những năm qua, nước ta liên tục cải thiện môi trường pháp lý cho ngành dược phẩm sau khi tham gia các hiệp định thương mại như EVFTA (Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu) và CPTPP (Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương).
Theo bà Nguyễn Thị Thanh Thủy, Giám đốc Pharma Group, trước khi Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại, một loại thuốc mới muốn đăng ký lưu hành phải được lưu hành ít nhất 5 năm tại nước tham chiếu hoặc thử nghiệm lâm sàng trong nước. Quy định này từng khiến bệnh nhân phải chờ nhiều thời gian mới tiếp cận được thuốc mới so với thế giới.
Hiện quy định này được bãi bỏ. Theo bà Thủy, nhiều loại thuốc chỉ sau 1-2 năm được phê duyệt trên thế giới đã có thể được doanh nghiệp đưa vào nước ta. Đây được xem là tín hiệu tích cực cho thấy môi trường pháp lý đang dần cải thiện tiệm cận với thông lệ quốc tế. Nội dung này được bà Thủy thông tin trong buổi trao đổi và cập nhật về sở hữu trí tuệ và ngành dược phẩm: "Thách thức và cơ hội cho Việt Nam" tổ chức tại TPHCM hôm 14-5 vừa qua.
Đáng nói hơn, những sửa đổi của Luật Dược gần đây cũng tạo ra tín hiệu tích cực cho ngành dược nước ta. Bà Thủy cho biết sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược cùng các văn bản hướng dẫn được ban hành, đã có 9 loại thuốc mới được doanh nghiệp nộp hồ sơ đưa vào Việt Nam. Điều này cho thấy các doanh nghiệp dược đang tin tưởng hơn vào môi trường chính sách và sẵn sàng đồng hành để người dân sớm tiếp cận các phương pháp phòng bệnh và điều trị.
Ngoài ra, Nghị quyết 57-NQ/TW và các chiến lược phát triển ngành dược gần đây cho thấy nước ta đang hướng đến mục tiêu cao hơn, không chỉ sản xuất thuốc generic (bản sao của thuốc biệt dược gốc, được sản xuất khi bằng sáng chế của thuốc gốc hết hiệu lực) mà còn thu hút đầu tư, nhận chuyển giao công nghệ thuốc phát minh. Các doanh nghiệp cũng muốn tham gia sâu hơn vào hoạt động nghiên cứu, phát triển thuốc và công nghệ sinh học có giá trị cao.
Tuy nhiên, để tăng sức hút đầu tư đối với các doanh nghiệp dược đa quốc gia, các chuyên gia lĩnh vực dược phẩm cho biết, nhà đầu tư nước ngoài không chỉ nhìn vào quy mô thị trường, mà còn quan tâm đến khả năng bảo vệ tài sản trí tuệ. Vì vậy, nước ta cần nâng cao tính minh bạch trong thực thi pháp luật, đặc biệt là cải thiện hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Theo luật sư Lê Xuân Lộc, Giám đốc sở hữu trí tuệ của Công ty Luật TNHH T&G, hiện vẫn còn khoảng cách giữa quy định pháp luật và hiệu quả thực thi trên thực tế. Theo ông Lộc, nếu quyền sở hữu trí tuệ không được bảo vệ hiệu quả sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư và việc đưa sản phẩm mới vào thị trường Việt Nam.
Bà Thủy cho biết ưu đãi đầu tư chưa phải yếu tố quyết định để thu hút các tập đoàn dược đa quốc gia. Một số nước như Singapore, Malaysia không có quá nhiều chính sách ưu đãi vượt trội nhưng vẫn hấp dẫn doanh nghiệp đầu tư quy mô lớn nhờ khung pháp lý ổn định, thực thi bảo vệ sở hữu trí tuệ hiệu quả và chời gian cấp phép rõ ràng. Đây cũng là yếu tố để thu hút các tập đoàn đầu tư dài hạn vào lĩnh vực dược phẩm công nghệ cao ở nước ta.
Các chuyên gia nhận định khi khoảng trống thực thi được thu hẹp, nước ta sẽ có thêm cơ hội thu hút nguồn vốn lớn vào ngành dược phẩm, từ đó mở thêm cơ hội để người bệnh sớm tiếp cận các phương pháp điều trị mới.










