Gỡ vướng để thương mại hóa tài sản trí tuệ
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ nhằm tháo gỡ vướng mắc, đơn giản hóa thủ tục và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, cắt giảm thủ tục phải đi đôi với giảm thời gian và chi phí thực hiện.

Pháp luật sở hữu trí tuệ đã có bước tiến về bảo hộ và khai thác thương mại nhưng thủ tục và năng lực thực thi vẫn còn những hạn chế
Công khai thời hạn, tiến độ xử lý hồ sơ
Thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ngày 3/11, ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) cho rằng, thời gian qua, pháp luật sở hữu trí tuệ đã có bước tiến về bảo hộ và khai thác thương mại. Luật năm 2025 đã bổ sung quy định về tài sản trí tuệ, môi trường số, trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, thủ tục và năng lực thực thi vẫn còn những hạn chế. Một quyền được công nhận nhưng khó chuyển nhượng, khó bảo vệ thì giá trị đối với người sáng tạo vẫn bị hạn chế. Lần sửa đổi này cần tháo gỡ những vướng mắc đó, đồng bộ với Luật sửa đổi Luật Đầu tư năm 2026 về dịch vụ giám định và kiện toàn quản lý quyền đối với giống cây trồng. Phạm vi sửa đổi không rộng nhưng phải rõ trách nhiệm, tránh để doanh nghiệp phải chờ hướng dẫn.
Dù báo cáo đã nêu thời hạn, quy trình tại thông tư theo khoản 4 Điều 97, ĐBQH Bùi Văn Dũng vẫn đề nghị bổ sung khoản 1c Điều 97, quy định cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp có trách nhiệm công khai tiến độ xử lý yêu cầu, thông báo lý do chậm giải quyết và cập nhật thông tin chuyển nhượng. Việc ghi nhận trách nhiệm này ngay trong luật sẽ tăng tính ràng buộc. Đồng thời, cần đối chiếu hồ sơ, chi phí để việc chuyển sang sửa văn bằng thực sự giảm việc, giảm thủ tục cho người dân.

Các đại biểu thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
Cùng chung nhận định này, ĐBQH Vũ Minh Đạo (Lai Châu) nhấn mạnh, cắt giảm thủ tục phải đi đôi với giảm thời gian và chi phí thực hiện. Do đó cần làm rõ lợi ích thực tế của từng nội dung trong số 18 thủ tục hành chính và 5 điều kiện đầu tư kinh doanh được cắt giảm tại dự thảo Luật.
Trong đó, đối với việc thay đổi thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển nhượng bằng thủ tục sửa đổi văn bằng bảo hộ quy định tại Điều 97, cần xác định cụ thể giảm được những giấy tờ nào, thời gian bao lâu và chi phí bao nhiêu. Đồng thời, dự thảo Luật cần quy định nguyên tắc không yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu mà cơ quan giải quyết có thể khai thác; công khai thời hạn xử lý, tiến độ và trách nhiệm giải quyết hồ sơ. Tại Điều 175 cần chỉnh lý quy định về tiếp nhận đơn theo hướng chỉ kiểm tra tính đầy đủ của tài liệu, tránh cách diễn đạt có thể dẫn đến việc đặt thêm điều kiện ngay từ khâu tiếp nhận, ĐBQH Vũ Minh Đạo nêu quan điểm.
Một vấn đề khác được đại biểu Vũ Minh Đạo quan tâm là quyền và nghĩa vụ của các bên trong thời gian chờ ghi nhận chuyển nhượng. Điều 138 của dự thảo Luật đã phân biệt thời điểm hợp đồng có hiệu lực giữa các bên với thời điểm chuyển nhượng được cơ quan nhà nước ghi nhận, nhưng cần làm rõ hệ quả pháp lý trong khoảng thời gian này. Ví dụ, trong trường hợp bên nhận chuyển nhượng đã thanh toán nhưng việc chuyển nhượng chưa được ghi nhận, ai có quyền yêu cầu xử lý vi phạm? Nếu một quyền được chuyển nhượng cho nhiều người hoặc yêu cầu ghi nhận bị từ chối thì giải quyết thế nào? Do đó cần bổ sung ngay trong dự thảo luật các nguyên tắc xử lý những tình huống này; đồng thời quy định cụ thể thời hạn ghi nhận và trách nhiệm cập nhật tình trạng pháp lý của văn bằng, bảo đảm an toàn cho giao dịch.

Nêu thực tế trong lĩnh vực y tế, ĐBQH Nguyễn Lân Hiếu (Hà Nội) đề cập đến tình trạng kéo dài thời gian bảo hộ sáng chế thuốc thông qua việc thay đổi dạng muối, dạng bào chế hoặc liều dùng để xin cấp bằng sáng chế mới, qua đó ngăn cản thuốc generic - loại thuốc có giá thành rẻ hơn, tạo thêm cơ hội tiếp cận điều trị cho người bệnh. Thời hạn bảo hộ sáng chế thuốc trên thế giới thường là 20 năm. Tuy nhiên, việc thay đổi một số đặc tính của thuốc để xin cấp bằng mới có thể trở thành cách thức kéo dài sự độc quyền.
Do vậy, ĐBQH Nguyễn Lân Hiếu đề nghị dự thảo Luật quy định rõ: phát hiện mới về dạng tồn tại hoặc công dụng mới của thuốc không được coi là có tính sáng tạo nếu không làm tăng đáng kể hiệu quả điều trị. Đồng thời, cần cho phép doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu, thử nghiệm và nộp hồ sơ đăng ký thuốc generic ngay trong thời gian bằng sáng chế gốc còn hiệu lực, để khi hết thời hạn bảo hộ có thể đưa thuốc ra thị trường ngay. Nếu không, việc tiếp cận thuốc có thể bị chậm thêm từ 2 - 3 năm.
Khai thác giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ
Trước xu hướng chuyển đổi số ngày càng mạnh mẽ, quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cũng cần được đánh giá khách quan, rõ ràng. ĐBQH Nguyễn Trung Kiên (TP. Đồng Nai) cho rằng, Khoản 5 Điều 6 của Luật Sở hữu trí tuệ quy định cơ sở pháp lý về việc phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng được tạo ra có sử dụng trí tuệ nhân tạo và giao Chính phủ quy định chi tiết. Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh chóng của AI, cần làm rõ hơn các nguyên tắc cơ bản ngay trong lần sửa đổi, bổ sung này, bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và ổn định.
Trên cơ sở đó, ĐBQH Nguyễn Trung Kiên đề nghị nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện khoản 5 Điều 6 theo hướng xác định rõ nền tảng trí tuệ nhân tạo không phải là chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ; sản phẩm do người sử dụng AI tạo ra được bảo hộ tương ứng với mức độ đóng góp sáng tạo của cá nhân đó. Cùng với đó, cần hoàn thiện quy định về giới hạn quyền sở hữu trí tuệ tại Điều 7, làm rõ điều kiện sử dụng tác phẩm, dữ liệu được bảo hộ để phát triển và vận hành nền tảng AI, bảo đảm cân bằng giữa quyền lợi của chủ thể sáng tạo với nhu cầu nghiên cứu, phát triển công nghệ; cần phân biệt việc sử dụng dữ liệu hợp pháp để nghiên cứu, phát triển, huấn luyện AI với hành vi sao chép, khai thác thương mại trái phép tác phẩm được bảo hộ. Không nên để AI trở thành công cụ hợp pháp hóa hành vi xâm phạm bản quyền.

Quan trọng hơn, ĐBQH Nguyễn Trung Kiên nhấn mạnh yêu cầu khai thác giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, đưa nguồn lực này thực sự đóng góp vào phát triển kinh tế. Quy định của Luật Sở hữu trí tuệ cần bảo đảm thống nhất với các luật liên quan, trong đó có dự thảo Luật Đấu giá về khả năng đấu giá, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Bởi thực tế, nhiều doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học có sáng chế, giải pháp hữu ích, phần mềm, công nghệ và các tài sản trí tuệ có giá trị, nhưng khả năng thương mại hóa còn hạn chế.
Theo đại biểu, Điều 138 quy định về chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp và Điều 141 quy định về chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là những cơ sở pháp lý quan trọng để khai thác tài sản trí tuệ. Tuy nhiên, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thương mại hóa, nhất là việc định giá, góp vốn, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm và chuyển giao kết quả nghiên cứu. Bổ sung quy định thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ trong nhóm quy định về chuyển giao quyền, theo hướng Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân xác định giá trị, góp vốn, chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng và khai thác thương mại hợp pháp tài sản trí tuệ.
Đồng thời, cần thúc đẩy phát triển thị trường giao dịch quyền sở hữu trí tuệ, cơ sở dữ liệu phục vụ định giá và các dịch vụ hỗ trợ thương mại hóa tài sản trí tuệ. Có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học đưa kết quả nghiên cứu, sáng chế vào sản xuất, kinh doanh; bảo đảm phân chia lợi ích hợp lý giữa tổ chức đầu tư, đơn vị chủ trì và người trực tiếp sáng tạo, ĐBQH Nguyễn Trung Kiên nhấn mạnh.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/go-vuong-de-thuong-mai-hoa-tai-san-tri-tue-190084.html

