Gỡ vướng thể chế, kết nối nhân tài, dẫn lối công nghệ
Nghị quyết 57 đã khơi dậy khát vọng cho tư duy đột phá, dám nghĩ, dám làm; mở đường cho phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số Quốc gia trở thành cuộc cách mạng sống động trong đời sống.

Tiến sỹ Trần Văn Khải - Phó Bí thư Đảng ủy Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.
Từ một đất nước mà quy mô, tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ còn khoảng cách xa so với nhóm các nước phát triển, chúng ta dấn thân, “đi tắt đón đầu” bước vào cuộc đua sống còn để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, thì Nghị quyết 57-NQ/TW khơi dậy khát vọng cho tư duy đột phá, dám nghĩ, dám làm, thúc đẩy hành động quyết liệt, đấu tranh gỡ bỏ điểm nghẽn thể chế, cơ chế, chính sách, nguồn nhân lực chất lượng cao; đầu tư mạnh hạ tầng, nhất là hạ tầng số, an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu…
Nghị quyết đã mở đường cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số Quốc gia trở thành cuộc cách mạng sống động trong đời sống kinh tế-xã hội.
Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách tạo lợi thế cạnh tranh
“Hoàn thiện thể chế” là ưu tiên hàng đầu. Nghị quyết 57 nhấn mạnh phải đưa thể chế trở thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Những điểm nghẽn cơ chế chính sách trong các văn bản pháp luật liên quan khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phải được nghiên cứu, sửa đổi kịp thời.
Có thể kể đến Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi các quy định về cơ chế tài chính, thúc đẩy hợp tác công-tư trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ;
Luật Chuyển giao Công nghệ hoàn thiện cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu;
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường số và hỗ trợ doanh nghiệp khai thác tài sản trí tuệ;
Luật Công nghệ cao cập nhật quy định để phù hợp với xu hướng công nghệ mới như AI, Blockchain, IoT, điện toán đám mây;
Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng bổ sung quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh dữ liệu trong quá trình chuyển đổi số;
Luật Viễn thông phát triển hạ tầng số, mạng 5G và dịch vụ viễn thông số; Luật Giao dịch điện tử hướng dẫn thực thi để tạo nền tảng pháp lý cho các giao dịch điện tử, chữ ký số, hợp đồng thông minh (8 luật)…

Hạ tầng chuyển đổi số ở tỉnh Kiên Giang. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Cùng với đó là các đạo luật liên quan đến tài chính, đầu tư cho khoa học-công nghệ (3 luật), lao động, đào tạo nguồn nhân lực số (2 luật). Bên cạnh đó, văn bản hướng dẫn, nghị định, chiến lược cần sửa đổi (4 văn bản).
Đây là những nút thắt từ các luật liên quan đến khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ra đời trước thời điểm Nghị quyết 57 mang tư duy chiến lược và hành động cách mạng trong lĩnh vực này.
Xác định việc triển khai Nghị quyết 57 là nhiệm vụ trọng tâm, Thủ tướng Chính phủ đòi hỏi Chương trình hành động cụ thể với tinh thần “5 rõ:” rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả.
Thực tế, ngay đầu năm 2025, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 03/NQ-CP-chương trình hành động toàn diện thực hiện Nghị quyết 57 với tầm nhìn dài hạn và các giải pháp khả thi, phân công trách nhiệm rõ ràng.
Đây là bước đi kịp thời để bảo đảm Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, để thể chế thực sự “thông thoáng, kiến tạo phát triển” cần tiếp tục rà soát, xóa bỏ các rào cản pháp lý đang cản trở nghiên cứu và đổi mới.
Tạo khung chính sách phù hợp với bản chất hoạt động khoa học-công nghệ vốn có độ trễ và rủi ro nhất định. Điều này có nghĩa là pháp luật cần cho phép chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu ở mức độ tính toán được.
Giải quyết vấn đề này, Chính phủ cần sớm trình Quốc hội ban hành cơ chế pháp lý cho Sandbox công nghệ trên các lĩnh vực như fintech, AI, xe tự lái, công nghệ sinh học... cho phép thử nghiệm nhanh trong khuôn khổ quản lý rủi ro phù hợp.
Nguyên tắc là “vướng đâu gỡ đó,” pháp luật phải được cập nhật kịp thời trước những mô hình, sản phẩm mới mà luật hiện hành chưa điều chỉnh. Trên thực tế, việc thí điểm Sandbox còn rất hạn chế.
Giai đoạn 2016-2021, cả nước chỉ có 2 chương trình thí điểm tương tự sandbox (dịch vụ taxi công nghệ và Mobile Money). Tinh thần là “vừa quản lý chặt chẽ, vừa kiến tạo phát triển” phải được quán triệt xuyên suốt.
Nhà nước tạo hành lang linh hoạt để công nghệ mới sớm ra đời, đồng thời giám sát để bảo vệ lợi ích công cộng.
Để bảo đảm mọi chính sách được thực thi quyết liệt và hiệu quả, Quốc hội, Chính phủ tiếp tục tiên phong “đi đầu tháo gỡ thể chế.”
Việc phân công phải rõ ràng “ai làm, làm gì, trách nhiệm ra sao, thời gian và kết quả thế nào.” Có như vậy mới “quán triệt nhận thức đi đôi với bước đi mạnh mẽ, đồng bộ” từ trung ương đến địa phương.
Thể chế thông thoáng, khung pháp lý ổn định sẽ tạo niềm tin và động lực để nhà khoa học và doanh nghiệp dám đầu tư dài hạn phát triển mạnh mẽ khoa học-công nghệ, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chìa khóa vàng: Nguồn lực và nhân tài
Nghị quyết 57 đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ “nhanh chóng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; ban hành cơ chế thu hút nhân tài, trong đó trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế.”
Để làm được điều đó, cần một cuộc cải cách triệt để cơ chế trọng dụng nhân tài. Sớm hình thành Chương trình quốc gia thu hút nhân tài tham gia các dự án trọng điểm.

Phòng nghiên cứu công nghệ nano hiện đại của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: TTXVN phát)
Việt Nam có lợi thế là mạng lưới hơn 600.000 chuyên gia, trí thức người Việt ở nước ngoài trong nhiều lĩnh vực. Đây là nguồn lực chất xám quý giá, nhưng việc tiếp cận, kết nối chưa thực sự hiệu quả.
Tương tự, nhiều chuyên gia quốc tế cũng sẵn sàng đến Việt Nam làm việc nếu có môi trường và đãi ngộ phù hợp.
Bài học từ Trung Quốc cho thấy từ năm 2008 họ triển khai “Kế hoạch Nghìn nhân tài” với kinh phí hậu hĩnh, thu hút hàng loạt nhà khoa học hàng đầu trở về nước, giúp nâng tầm nghiên cứu trong nước.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các chương trình chiêu mộ nhân tài trẻ của Trung Quốc “hiệu quả trong việc thu hút và phát triển các nhà khoa học xuất sắc,” những người này sau đó công bố nhiều công trình có giá trị vượt trội.
Singapore cũng rất chú trọng “đãi cát tìm vàng.” Họ xây dựng các trung tâm R&D hàng đầu như Biopolis (khu đô thị khoa học sự sống) nhằm “thu hút nhân tài toàn cầu và tạo hệ sinh thái nghiên cứu đẳng cấp thế giới.”
Hiện nay khoảng 70% nhà khoa học làm việc tại Biopolis là người nước ngoài-minh chứng cho sức hấp dẫn của môi trường nghiên cứu tại Singapore.
Từ những kinh nghiệm đó, Việt Nam cần có chính sách đột phá về thu hút chuyên gia. Mời gọi các giáo sư, nhà khoa học giỏi gốc Việt về nước hợp tác nghiên cứu thông qua các dự án, đề án trọng điểm quốc gia; đãi ngộ xứng đáng tương xứng với thu nhập và cơ hội ở các nước phát triển.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 179/2024 về chính sách thu hút và trọng dụng người có tài năng trong cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, chính sách không chỉ giới hạn ở khu vực công mà quan trọng hơn là tạo điều kiện cho khu vực tư nhân, các viện trường tuyển dụng chuyên gia xuất sắc với thủ tục thông thoáng.
Kéo dài tuổi làm việc để tận dụng chuyên gia đầu ngành, nhân lực chất lượng cao. Hiện nay, Giáo sư, Phó Giáo sư ở trường đại học công lập chỉ được kéo dài làm việc tối đa 5 năm sau tuổi hưu, theo Nghị định 50/2022/NĐ-CP.
Quy định “cào bằng” này lãng phí nguồn lực và hành chính hóa tiềm lực khoa học, đi ngược thông lệ quốc tế, nơi phần lớn giáo sư tiếp tục nghiên cứu, giảng dạy hay tham gia làm chủ các dự án kinh tế xã hội không bị ràng buộc tuổi tác.
Do đó, cần bãi bỏ giới hạn cứng về tuổi; đồng thời trao quyền cho các đơn vị tự quyết định sử dụng nhân tài dựa trên hiệu quả cống hiến (KPI) thay vì tuổi đời.
Bên cạnh đó, nuôi dưỡng và phát huy nguồn lực từ thế hệ trẻ; mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo, quỹ tài năng trẻ để ươm tạo ý tưởng sáng tạo từ phòng thí nghiệm ra thị trường.
Hiện nay, Chính phủ đã giao các bộ ngành nghiên cứu thành lập Quỹ đổi mới sáng tạo để thúc đẩy đổi mới sáng tạo quốc gia; xây dựng khung khổ pháp lý và một quỹ phát triển đổi mới sáng tạo phù hợp điều kiện Việt Nam.
Quỹ này khi hình thành sẽ cấp vốn hạt giống cho các dự án nghiên cứu triển vọng, đặc biệt ưu tiên các nhà khoa học trẻ, các startup công nghệ. Ngoài ra, có thể huy động khối tư nhân cùng đóng góp vào quỹ theo mô hình hợp tác công-tư (PPP) để gia tăng nguồn lực.
Đào tạo kỹ năng số cho toàn dân như “bình dân học vụ” số. Chuyển đổi số chỉ thành công khi người lao động có kỹ năng phù hợp.

Việt Nam đã và đang triển khai chiến lược đào tạo nhân lực chất lượng cao ngành công nghiệp bán dẫn. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)
Nhiều báo cáo cho thấy lực lượng lao động Việt Nam còn thiếu kỹ năng về công nghệ, đặc biệt trong các ngành thâm dụng tri thức. Do vậy, Nhà nước nên hỗ trợ các chương trình upskill, reskill quy mô lớn, từ đào tạo kiến thức cơ bản về tin học, dữ liệu cho công nhân viên chức, đến các khóa chuyên sâu về lập trình, AI cho sinh viên, kỹ sư.
Những chương trình như liên kết giữa NIC và Google đào tạo nhân tài số cho hàng nghìn sinh viên nên được nhân rộng. Mục tiêu đến năm 2025 có 80% người trưởng thành có kỹ năng số cơ bản, tiến tới năm 2030 lực lượng lao động sẵn sàng cho nền kinh tế số.
Nâng mật độ nhân lực nghiên cứu khoa học đạt mục tiêu đạt 12 người nghiên cứu/ 1 vạn dân vào năm 2030, tăng đáng kể so với khoảng 7 người/1 vạn dân hiện nay.
Để đạt mục tiêu đó, cần đầu tư mạnh vào đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ trong các lĩnh vực mũi nhọn; đồng thời thu hút các nhà khoa học Việt kiều về nước.
Việc hình thành đội ngũ 12 người nghiên cứu/1 vạn dân sẽ đưa Việt Nam tiệm cận mức trung bình của các nước phát triển, tạo sức bật cho hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia.
Doanh nghiệp - trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo
Thực tiễn các nước cho thấy phần lớn các phát minh, sáng chế được thương mại hóa là từ doanh nghiệp.
Chiến lược khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia cũng xác định cần phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mà trong đó, các doanh nghiệp lớn đóng vai trò trung tâm dẫn dắt, Nhà nước kiến tạo môi trường và liên kết viện trường với doanh nghiệp.
Hiện nay, đóng góp từ doanh nghiệp Việt Nam cho R&D còn khá khiêm tốn, chủ yếu mới dừng ở các tập đoàn FDI lớn. Do vậy, cần tạo môi trường khuyến khích mọi doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp tư nhân trong nước tích cực đầu tư đổi mới.
Sử dụng đòn bẩy thuế và tín dụng để khuyến khích doanh nghiệp tăng chi cho R&D. Tại nhiều quốc gia, doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế đặc biệt cho khoản chi R&D. Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc cho phép khấu trừ 150% đến 250% chi phí R&D khi tính thuế, như một hình thức “siêu khấu trừ.”

Trải nghiệm robot Anbi tại Ngày hội 'Thanh niên Bắc Giang-Đổi mới sáng tạo thời đại số.' (Ảnh: Đồng Thúy/TTXVN)
Ở Việt Nam, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành cho phép trích một phần lợi nhuận trước thuế vào Quỹ phát triển khoa học-công nghệ, nhưng tối đa chỉ 10% và thủ tục sử dụng rất phức tạp.
Kết quả là số doanh nghiệp lập quỹ còn ít và chỉ khoảng 60% tiền quỹ được sử dụng, phần còn lại bị “đóng băng” do vướng quy định phải dùng 70% sau 5 năm, nếu không sẽ bị truy thu thuế.
Chính sách không khuyến khích doanh nghiệp dành nguồn lực nghiên cứu dự án dài hạn. Cần sớm bãi bỏ trần 10% và nới lỏng các ràng buộc với quỹ R&D doanh nghiệp. Thay vào đó, có thể áp dụng hình thức khuyến khích trực tiếp hơn, chẳng hạn, cho phép khấu trừ 150% chi phí R&D vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Điều này sẽ tạo động lực tài chính mạnh mẽ để doanh nghiệp “mạo hiểm hơn trong các dự án đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm mới.”
Song song đó, cần có chính sách tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp công nghệ, đặc biệt là startup đổi mới sáng tạo, để họ có nguồn lực triển khai ý tưởng.
Phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo và vườn ươm công nghệ kết nối doanh nghiệp-viện trường. Chính phủ đã thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) tại Hà Nội, với cơ sở vật chất hiện đại và sự tham gia của nhiều đối tác lớn. NIC được kỳ vọng trở thành “điểm hẹn của trí tuệ” từ khắp nơi, nơi ươm tạo các ý tưởng và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới.
Thủ tướng mong muốn NIC “trở thành nơi quy tụ các trí thức toàn cầu để lan tỏa giá trị đổi mới sáng tạo ra toàn xã hội.” Thời gian tới, nên xem xét thành lập thêm một số trung tâm đổi mới sáng tạo tại các địa phương có tiềm năng (Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…), tạo mạng lưới liên kết vùng.
Bên cạnh đó, cần hình thành các khu sandbox, phòng thí nghiệm sống cho những lĩnh vực công nghệ mới như: khu thử nghiệm về AI và robotics, nơi doanh nghiệp có thể đem sản phẩm AI thử nghiệm thực tế với sự hỗ trợ của nhà quản lý; hay sandbox fintech dưới sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước cho phép thử nghiệm các dịch vụ tài chính số sáng tạo.
Việc Hà Nội tận dụng Luật Thủ đô để thí điểm sandbox cho một số ngành mũi nhọn như chip vi mạch, AI… là hướng đi đáng hoan nghênh. Nếu mô hình thành công có thể nhân rộng ra toàn quốc, tạo nên những “đặc khu công nghệ” thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới đột phá.
Mục tiêu cuối cùng là tạo một thế hệ doanh nghiệp Việt Nam coi đổi mới sáng tạo là văn hóa cốt lõi. Và khi đó, doanh nghiệp sẽ trở thành “cỗ máy chủ lực” kéo theo cả hệ sinh thái đi lên.
Hạ tầng hiện đại và kinh nghiệm, hợp tác quốc tế
Nghị quyết 57 đề ra nhiệm vụ tăng cường đầu tư hạ tầng cho khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trước mắt, ưu tiên phát triển hạ tầng số hiện đại. Chính phủ xác định phương châm “hạ tầng số phải đi trước một bước.”
Điều này đồng nghĩa với việc đẩy nhanh triển khai mạng 5G trên phạm vi toàn quốc, tiến tới thử nghiệm công nghệ 6G.
Hiện các doanh nghiệp viễn thông lớn của Việt Nam đã sẵn sàng cho thương mại hóa 5G, cần sự hỗ trợ chính sách để tăng tốc độ phủ sóng.

Lắp đặt hạ tầng và trạm thu phát sóng VinaPhone 5G trên toàn quốc. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Cùng với đó, xây dựng một Trung tâm dữ liệu quốc gia quy mô lớn phục vụ nhu cầu lưu trữ, xử lý dữ liệu của Chính phủ và doanh nghiệp. Khuyến khích phát triển các nền tảng điện toán đám mây nội địa đủ mạnh, đảm bảo an toàn cho dữ liệu Việt Nam.
Song song đó, hoàn thiện hạ tầng vật lý cho nghiên cứu: đầu tư các phòng thí nghiệm trọng điểm về trí tuệ nhân tạo, sinh học, vật liệu mới; nâng cấp cơ sở của các viện nghiên cứu công lập theo hướng hiện đại và mở cho doanh nghiệp, trường đại học cùng sử dụng.
Trong mọi dự án, phải quán triệt yêu cầu bảo đảm an ninh mạng và chủ quyền số quốc gia. Đảm bảo an ninh, an toàn thông tin và an ninh dữ liệu là yêu cầu “xuyên suốt, không thể tách rời” trong quá trình phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Do đó, hệ thống hạ tầng số cần tuân thủ tiêu chuẩn an ninh ngay từ thiết kế. Dữ liệu quan trọng phải được lưu trữ an toàn, có phương án dự phòng tại chỗ. Phát triển kinh tế số nhưng không đánh đổi an ninh quốc gia.
Đây là nguyên tắc nhất quán. Việt Nam cần chủ động xây dựng năng lực phòng thủ không gian mạng ngang tầm các nước tiên tiến nhằm bảo vệ hạ tầng số trước nguy cơ tấn công mạng ngày càng gia tăng.
Việt Nam nên tích cực tranh thủ sự hỗ trợ của các đối tác và tổ chức đa phương để thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Trước hết, thu hút các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt cơ sở R&D tại Việt Nam thông qua ưu đãi và mô hình PPP.
Trường hợp thành công nhất là Samsung. Tập đoàn này đã đầu tư gần 20 tỷ USD vào Việt Nam và vừa khánh thành Trung tâm R&D 220 triệu USD tại Hà Nội - trung tâm lớn nhất Đông Nam Á của Samsung.
Sự hiện diện của Samsung R&D với hơn 2.300 kỹ sư sẽ góp phần “nâng tầm Việt Nam từ cứ điểm sản xuất lên cứ điểm chiến lược về nghiên cứu phát triển.” Mới đây có Nvidia và chúng ta có thể mời gọi thêm các hãng như Intel, Google, Microsoft, Toyota… mở trung tâm nghiên cứu hoặc vườn ươm tại Việt Nam.

Khu công nghiệp Becamex Bình Phước (Chơn Thành, Bình Phước). (Ảnh: Dương Chí Tưởng/TTXVN)
Nhà nước cần ưu đãi đủ hấp dẫn về thuế, đất đai, nhân lực, đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ để doanh nghiệp nước ngoài yên tâm đầu tư cho R&D.
Áp dụng mô hình hợp tác PPP như Bộ Khoa học-Công nghệ với tập đoàn đa quốc gia để lập phòng thí nghiệm chung, cùng nghiên cứu một số hướng công nghệ và chia sẻ kết quả.
Tăng cường hợp tác chính sách với các tổ chức quốc tế như OECD, WIPO, World Bank. OECD có nhiều khuyến nghị quý báu về xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất mà Việt Nam có thể học hỏi.
WIPO hỗ trợ các nước nâng cao chỉ số Global Innovation Index (GII)-Việt Nam nên tranh thủ tư vấn từ WIPO để cải thiện các chỉ số về thể chế, nhân lực, thị trường trong GII, phấn đấu lọt Top 40 quốc gia đổi mới sáng tạo hàng đầu vào năm 2030.
Ngân hàng Thế giới cũng có kinh nghiệm triển khai các dự án đổi mới sáng tạo ở Việt Nam (như dự án FIRST trước đây), là đối tác cung cấp vốn vay ưu đãi và chuyên gia cho các chương trình đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quy mô lớn.
Hợp tác quốc tế còn giúp Việt Nam đón đầu tri thức mới: thông qua các chương trình đồng nghiên cứu với nước ngoài, trao đổi nhà khoa học, tham gia mạng lưới học thuật toàn cầu…
Thực tế, mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam những năm qua đã mở rộng tới Đức, Australia, Nhật, Mỹ… kết nối hàng nghìn chuyên gia người Việt toàn cầu sẵn sàng đóng góp cho quê hương. Đây là mô hình tốt cần duy trì và hỗ trợ, để Việt Nam gắn kết chặt chẽ hơn với dòng chảy tri thức thế giới.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều quốc gia đã thành công nhờ chiến lược phát triển khoa học-công nghệ táo bạo và nhất quán. Đây là bài học quý báu cho Việt Nam.
Nghị quyết 57 đã vạch rõ con đường đưa khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển đất nước. Vấn đề cốt lõi bây giờ là hành động.
Từ trung ương đến địa phương, từ khu vực công đến tư, tất cả phải chung sức cụ thể hóa nhiệm vụ đề ra. Tương lai nằm trong tay nếu ngay từ hôm nay, chúng ta quyết liệt hành động.
Đầu tư cho khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo là đầu tư cho tương lai. Với tinh thần dám nghĩ, dám làm và khát vọng đổi mới, Việt Nam nhất định sẽ tận dụng được “thời cơ vàng” từ cuộc cách mạng công nghệ hiện nay, vươn mình trở thành một quốc gia đổi mới sáng tạo năng động, thịnh vượng.
Đột phá hay tụt hậu - câu trả lời sẽ tùy thuộc vào bước đi của chúng ta trong những năm tới. Hãy cùng chung tay gỡ điểm nghẽn, giải phóng tối đa sức sáng tạo vì một Việt Nam hùng cường./.