Góc nhìn văn hoá: Kỷ niệm 36 năm Ngày Quốc tế người cao tuổi (1/10) - Kiến tạo một xã hội trường thọ

Già hóa dân số không chỉ làm thay đổi cơ cấu dân số mà còn đặt ra những câu hỏi sâu sắc về cách một xã hội nhìn nhận tuổi già, về trách nhiệm giữa các thế hệ và về mô hình phát triển trong một kỷ nguyên mà con người sống ngày càng lâu hơn. Với Việt Nam, khi tốc độ già hóa thuộc nhóm nhanh, “người cao tuổi” không còn là câu chuyện riêng của ngành y tế hay an sinh xã hội, mà đã trở thành vấn đề văn hóa, kinh tế và tổ chức đời sống cộng đồng.

Năm 2026 kỷ niệm 36 năm Ngày Quốc tế Người cao tuổi (1/10) mang chủ đề “Kỷ nguyên trường thọ: Thiết kế lại hệ thống cho cuộc sống dài lâu”. Chủ đề ấy gợi mở một cách tiếp cận quan trọng: Khi tuổi thọ tăng lên, xã hội không thể chỉ kéo dài những chính sách vốn được thiết kế cho một cấu trúc dân số trẻ, mà cần thiết kế lại hệ thống y tế, an sinh, lao động, dịch vụ xã hội và cả không gian văn hóa để thích ứng với một đời sống dài lâu.

Hà Nội tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người cao tuổi. Ảnh: TTXVN

Hà Nội tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người cao tuổi. Ảnh: TTXVN

Từ “chăm lo” đến trao quyền và phát huy giá trị người cao tuổi

Việt Nam bắt đầu bước vào quá trình già hóa từ năm 2011 và dự kiến đến năm 2034 sẽ trở thành xã hội già, khi tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt 14%; đến năm 2050, tỷ lệ này dự kiến vượt 21%. Đáng chú ý, quá trình ấy diễn ra trong điều kiện mức thu nhập chưa cao. Vì thế, già hóa dân số không đơn thuần là bài toán “có thêm bao nhiêu người già”, mà là bài toán về chất lượng sống, về khả năng tổ chức xã hội và về cách chuẩn bị cho tương lai.

Những con số về chính sách hiện nay cho thấy hệ thống chăm sóc người cao tuổi đã có những bước tiến đáng kể. Hơn 2,5 triệu người cao tuổi đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, 1,2 triệu người hưởng chính sách ưu đãi đối với người có công; khoảng 80% được lập hồ sơ theo dõi sức khỏe và hơn 69% được khám sức khỏe định kỳ ít nhất một lần mỗi năm. Tuy nhiên, tỷ lệ người cao tuổi được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp hưu trí xã hội mới đạt khoảng 42% trong năm 2025, thấp hơn mục tiêu 55%.

Khoảng cách ấy cho thấy một thực tế: Hệ thống chăm sóc người cao tuổi cần tiếp tục mở rộng, nhưng quan trọng hơn là phải thay đổi triết lý chăm sóc.

Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, kính trọng người cao tuổi vốn là một giá trị lâu đời. “Kính lão” không chỉ là phép ứng xử trong gia đình mà còn phản ánh quan niệm coi trọng kinh nghiệm, đạo lý và vốn sống của các thế hệ đi trước. Trong đời sống cộng đồng, người cao tuổi từng giữ vai trò hòa giải, truyền dạy phong tục, gìn giữ ký ức làng quê, giáo dục con cháu và tham gia các công việc chung.

Nhưng trong xã hội hiện đại, cấu trúc gia đình thay đổi, đô thị hóa và di cư lao động làm khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng rõ hơn. Con cháu có thể sống và làm việc xa cha mẹ; phụ nữ tham gia thị trường lao động ngày càng nhiều; gia đình ít thế hệ trở nên phổ biến. Mô hình chăm sóc người cao tuổi dựa chủ yếu vào gia đình vì thế đứng trước những giới hạn mới.

Đây chính là lúc cần nhìn tuổi già bằng một quan niệm rộng hơn. Người cao tuổi không chỉ là người cần được trợ giúp mà còn là một nguồn lực xã hội, văn hóa và tri thức.

Việc chuyển từ xử lý các vấn đề phát sinh sang chủ động phòng ngừa, quản lý rủi ro và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người cao tuổi như đề xuất của ông Ngô Anh Tuấn, Phó Trưởng Ban Chăm sóc người cao tuổi, Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam, vì thế có ý nghĩa không chỉ về chính sách mà còn về văn hóa.

Một xã hội văn minh không thể đo bằng việc có bao nhiêu cơ sở dưỡng lão, mà còn bằng việc người cao tuổi có được sống độc lập, được tôn trọng, được lựa chọn cách sống và tiếp tục cảm thấy mình có ích hay không.

Đó cũng là lý do cần phát huy vai trò của Hội Người cao tuổi Việt Nam trong tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng chính sách. Những mô hình như câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau, tổ tư vấn pháp luật, tình nguyện viên chăm sóc người cao tuổi hay các mô hình chăm sóc cộng đồng cần được nhìn nhận như những thiết chế văn hóa – xã hội, nơi các thế hệ có thể gặp gỡ, chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau.

Đặc biệt, việc để người cao tuổi tiếp tục tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội, bảo tồn và truyền dạy các giá trị văn hóa cần được xem là một phần của chiến lược thích ứng với già hóa. Người thợ lành nghề có thể truyền nghề; nghệ nhân có thể truyền dạy di sản; người cao tuổi có thể kể lại lịch sử cộng đồng; những người có kinh nghiệm có thể tiếp tục cố vấn, hướng dẫn thế hệ trẻ.

Ở góc độ đó, chăm sóc người cao tuổi không có nghĩa là “đưa người già ra khỏi đời sống”, mà ngược lại, phải giúp họ ở lại lâu nhất có thể trong gia đình, cộng đồng và đời sống xã hội.

Công nghệ cũng mở ra một hướng đi mới. Dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng quản lý có thể hỗ trợ theo dõi sức khỏe, đánh giá nhu cầu chăm sóc, cảnh báo nguy cơ bạo lực, lừa đảo và những rủi ro mà người cao tuổi có thể gặp phải. Nhưng công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó phục vụ con người. Một xã hội số thân thiện với người cao tuổi phải đồng thời là một xã hội biết lắng nghe, giải thích, hỗ trợ và bảo vệ họ.

Khi chăm sóc và kinh tế bạc trở thành một phần của văn hóa cộng đồng

Một trong những khoảng trống đáng chú ý hiện nay nằm giữa hai mô hình: chăm sóc hoàn toàn tại gia đình và chăm sóc dài hạn tại các cơ sở lưu trú. Không ít người cao tuổi vẫn muốn sống cùng con cháu, nhưng trong những giờ ban ngày, khi con cái đi làm, họ cần một không gian an toàn để sinh hoạt, vận động, giao tiếp và được hỗ trợ khi cần thiết.

Mô hình chăm sóc ban ngày (Daycare) có thể đáp ứng khoảng trống đó.

Theo đề xuất của Thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Thanh, Chủ tịch Công ty cổ phần quốc tế Nhân Ái, Daycare không chỉ là nơi “trông giữ” người cao tuổi trong ngày. Mô hình này có thể tích hợp theo dõi sức khỏe, dinh dưỡng, quản lý thuốc, vận động, phục hồi chức năng cùng các hoạt động giao tiếp, đọc sách, âm nhạc, trò chơi trí nhớ và sinh hoạt văn hóa.

Nếu được phát triển phù hợp, Daycare có thể tạo ra một thay đổi đáng kể trong văn hóa chăm sóc. Gia đình không còn phải lựa chọn giữa hai cực: hoặc tự mình đảm nhận toàn bộ việc chăm sóc, hoặc đưa người thân vào cơ sở chăm sóc dài hạn. Một lựa chọn thứ ba xuất hiện: Chăm sóc chuyên nghiệp nhưng vẫn duy trì đời sống gia đình và cộng đồng.

Điều này đặc biệt phù hợp với tâm lý và nhu cầu của nhiều người cao tuổi Việt Nam – những người vẫn muốn sống trong ngôi nhà quen thuộc, gần con cháu, hàng xóm và không gian văn hóa quen thuộc.

Từ góc nhìn kinh tế, Daycare còn có thể trở thành một mắt xích trong sự hình thành “kinh tế bạc”. Nhu cầu chăm sóc người cao tuổi kéo theo nhu cầu về phục hồi chức năng, dinh dưỡng, vận chuyển, thiết bị trợ giúp, công nghệ, giải trí, du lịch và các dịch vụ chuyên biệt. Một lĩnh vực từng được nhìn chủ yếu dưới góc độ an sinh vì thế có thể trở thành một ngành dịch vụ mới, tạo việc làm và giá trị kinh tế.

Tuy nhiên, “kinh tế bạc” chỉ thực sự có ý nghĩa nếu đặt người cao tuổi ở vị trí trung tâm. Không thể biến tuổi già thành một “thị trường” đơn thuần. Những dịch vụ dành cho người cao tuổi phải được xây dựng trên nền tảng an toàn, nhân văn, tôn trọng phẩm giá và khả năng lựa chọn của họ.

Vì vậy, việc xây dựng tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, nhân lực, chăm sóc y tế, dinh dưỡng, phục hồi chức năng, hoạt động tinh thần và quản lý chất lượng là cần thiết. Cùng với đó là đào tạo nhân lực chăm sóc, coi chăm sóc người cao tuổi là một nghề chuyên nghiệp, có tiêu chuẩn và lộ trình nghề nghiệp.

Xa hơn, cần hình thành một hệ sinh thái chăm sóc liên kết giữa gia đình, y tế, cộng đồng, cơ sở Daycare, chăm sóc tại nhà và chăm sóc dài hạn. Mỗi mô hình có một chức năng khác nhau nhưng cùng hướng tới một mục tiêu: Giúp người cao tuổi sống khỏe mạnh, an toàn, độc lập và có ý nghĩa.

Già hóa dân số vì thế cần được nhìn như một lời nhắc nhở để xã hội thiết kế lại chính mình. Đó là thiết kế lại đô thị để người cao tuổi có thể đi lại an toàn; thiết kế lại dịch vụ để họ dễ tiếp cận; thiết kế lại thị trường lao động để những người còn khả năng và nhu cầu có thể tiếp tục làm việc; thiết kế lại không gian văn hóa để ký ức và kinh nghiệm của họ không bị đứt gãy.

Quan trọng hơn, đó là thiết kế lại mối quan hệ giữa các thế hệ.

Một xã hội trường thọ không chỉ là xã hội có nhiều người sống đến tuổi cao. Đó phải là xã hội biết làm cho những năm tháng sống thêm ấy trở nên có chất lượng, có phẩm giá và có ý nghĩa. Với Việt Nam, chiến lược hành động vì người cao tuổi vì thế cần được bắt đầu từ chính một thay đổi trong nhận thức: Không chỉ chăm sóc người cao tuổi, mà tạo điều kiện để họ tiếp tục là một phần tích cực của đời sống gia đình, cộng đồng và văn hóa.

Khi người cao tuổi được sống khỏe, sống độc lập và tiếp tục trao truyền những giá trị của mình, xã hội không chỉ chăm lo cho một thế hệ. Xã hội đang bảo vệ chính ký ức, kinh nghiệm và nền tảng văn hóa của mình – đồng thời chuẩn bị cho tương lai mà tất cả chúng ta đều có thể trở thành một phần trong đó.

V.X.B 

Vũ Xuân Bân

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/goc-nhin-van-hoa-ky-niem-36-nam-ngay-quoc-te-nguoi-cao-tuoi-110-kien-tao-mot-xa-hoi-truong-tho-a35258.html