GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng kể hậu trường ca mổ chấn động thế giới
Đằng sau ca mổ Việt - Đức chấn động cùng giấc mơ IVF là những quyết định nín thở và trái tim nhân văn của nữ bác sĩ dành trọn đời vì sức khỏe người Việt.
GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng: Hậu trường chưa kể về ca mổ Việt - Đức chấn động thế giới
Đằng sau ca mổ Việt - Đức chấn động cùng giấc mơ IVF là những quyết định nín thở và trái tim nhân văn của nữ bác sĩ dành trọn đời vì sức khỏe người Việt.

Show: MediVoice
Khách mời: GS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng - nguyên Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM)
Host: Phương Thảo
Mỗi khi mệt mỏi hay buồn phiền, GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng lại tìm xuống Làng Hòa Bình, hòa mình vào nụ cười hồn nhiên của những đứa trẻ.
Chính trái tim nhạy cảm và bao dung ấy đã nâng bước bà suốt hơn 50 năm y nghiệp. Từ quyết định không sống "làng nhàng tốn cơm" để cống hiến cho đất nước, đến lời tuyên bố khoa học giải phóng nỗi oan ức nghìn đời của những người vợ hiếm muộn, hay mô hình Cô đỡ thôn bản... tất cả đều xuất phát từ một nguyên tắc sống: “Đối xử với bệnh nhân không phải ban ơn mà phải tôn trọng, bình đẳng và tình cảm”.
Đến với Medi Voice, vị bác sĩ 82 tuổi nhớ lại quãng đường đi qua giông bão bằng chất giọng trầm lắng, thi thoảng ngập ngừng dừng lại thật lâu, như khoảng lặng dành riêng cho những tên người, tên nghề đã khắc sâu vào tâm trí.
Những bức ảnh lịch sử




Trong 4 bức ảnh này, bức đầu tiên chụp cô Phượng hồi còn rất trẻ, trên tay bế một đứa trẻ và phía sau có rất nhiều bé nhỏ khác. Cô có nhớ khoảnh khắc này không?
Tôi không nhớ chính xác năm. Hồi đó tôi thường xuống chơi với các cháu ở Làng Hòa Bình, mỗi lần xuống là tụi nó tập trung lại ca hát rất vui. Đứa bé tôi bế trên tay bị hỏng hai mắt. Trong ảnh cũng có Đức (trong ca mổ Việt - Đức) hồi còn nhỏ, lúc đó Đức chừng mười mấy tuổi, mà nay đã 40 tuổi rồi. Vậy là bức ảnh này chắc chụp khoảng 30 năm trước, lúc tôi khoảng 50–52 tuổi và vẫn đang làm việc tại Bệnh viện Từ Dũ (đến năm 62 tuổi tôi mới về hưu).
"Tâm nguyện của tôi không chỉ cho Việt - Đức mà cho tất cả nạn nhân chất độc da cam là làm sao cho các cháu lớn lên, trưởng thành, đi học và sống hạnh phúc như người bình thường".
Bức ảnh thứ hai là hình ảnh cô tham dự phiên điều trần tại Hạ viện Mỹ vì các nạn nhân chất độc da cam?
Bức ảnh có bé Hoan là lần thứ hai tôi sang Mỹ vào năm 2010. Lần đầu tiên tôi đi một mình vào năm 2008. Tới năm 2009, tôi tham dự Tòa án Lương tâm Quốc tế để xử vụ các công ty hóa chất sản xuất và quân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học phá hủy môi trường, hệ sinh thái và ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe con người Việt Nam, nhất là các cháu nhỏ sinh ra từ người mẹ bị phơi nhiễm.
Để theo đuổi vụ kiện lịch sử này, tôi phải đi lại giữa Việt Nam và Mỹ nhiều lần. Lần đầu năm 2008, khi tới Hạ viện Hoa Kỳ, tôi rất mừng vì họ treo băng rôn có nội dung: "Trách nhiệm bị lãng quên của chúng ta: Chúng ta phải làm gì cho nạn nhân các chất dioxin". Trước đó, chính phủ Mỹ kiên quyết không dùng hai từ "trách nhiệm" và "nạn nhân", vì có nạn nhân là có thủ phạm. Nhưng năm đó họ đã chấp nhận dùng.
Lần đầu đi tôi ở tại Đại sứ quán và được Đại sứ quán đưa tới Hạ viện. Lần thứ hai năm 2010 thì có bé Hoan đi cùng. Hoan ở Làng Hòa Bình, bị cụt hai chân trên đầu gối và cụt tay trái, nhưng cháu học giỏi, có bằng cử nhân máy tính và Anh văn. Lần đó, hai người bạn Mỹ của tôi đã thuê chỗ ở cho mẹ con.
Bức ảnh thứ ba là hình ảnh "ba thế hệ" trong một ca mổ, cô thấy gì khi nhìn vào bức ảnh này?
Đó là ca mổ lấy thai. Trong ảnh, tôi bế em bé vừa lấy ra, bác sĩ Ngọc Lan (con gái) làm phụ mổ một, còn bác sĩ Lan Nhi (cháu ngoại) làm phụ mổ hai.
Và bức ảnh cuối cùng là lần xuất hiện gần đây nhất của cô tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976-2/7/2026).
Đúng vậy, lúc đó tôi 82 tuổi, đại diện cho thế hệ công dân lớn tuổi của TP.HCM phát biểu. Đó là một kỷ niệm rất đáng nhớ.
Chuyện chưa kể về ca mổ Việt - Đức
Đi qua hơn nửa thế kỷ gắn bó với ngành y, nếu ví hành trình ấy như một thước phim tua chậm, đâu là hình ảnh hiện lên đầu tiên và khiến cô nhớ nhất?
Tôi nhớ nhất là những năm tháng khó khăn 1975-1976. Mổ lấy thai hồi đó không có chỉ tự tiêu như bây giờ. Chỉ tự tiêu do Trung Quốc viện trợ lúc đó to lắm. Chúng tôi gọi vui là như "sợi dây thừng", cỡ cái ruột bút bi. Vì phải tiết kiệm tối đa, bác sĩ khi mổ phải dùng kiềm để cột chỉ cầm máu và khâu tử cung, để khi cắt chỉ dư không quá 1 cm. Ban Giám đốc lúc đó quy định bác sĩ nào không biết cột bằng kiềm để tiết kiệm chỉ thì không được mổ.
Đặc biệt, cô Hai Hạnh và cô Ba Trọng (Trưởng/phó nữ hộ sinh và phòng mổ) mỗi lần mổ xong thấy thừa cây kim hay khúc chỉ dài một chút là ngâm vào cồn để dành. Lưỡi dao dùng xong cũng không bỏ mà cô Hai Hạnh cứ mài đi mài lại, rửa cồn ngâm tiệt trùng. Tuy mài thủ công nhưng dao vẫn rất sắc.
Năm 1994, khi làm Giáo sư bên Pháp, sợi chỉ khâu họ chỉ dùng 1-2 lần rồi cắt bỏ. Lúc đó tôi tuyên bố luôn 10 năm nữa Việt Nam sẽ "giàu hơn" nước Pháp, vì chúng tôi rất tiết kiệm, còn các bạn thì hơi lãng phí (cười).
“Tâm nguyện của tôi không chỉ cho Việt - Đức mà cho tất cả nạn nhân chất độc da cam, là làm sao cho các cháu lớn lên, trưởng thành, đi học và sống hạnh phúc như người bình thường”
GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng
Ca mổ tách Việt - Đức năm 1988 cũng là một kỷ niệm không thể nào quên đúng không cô?
Năm 1988 khó khăn dữ dội. Thuốc men và trang thiết bị thiếu thốn đủ đường. May mắn Sở Y tế cử tôi sang Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản, họ viện trợ cho 2 máy thở, 2 máy theo dõi tim mạch/huyết áp, 2 máy chạy thận và 2 máy gây mê hiện đại, chỉ may, dịch truyền... Mổ xong mình còn tặng lại Bệnh viện Thống Nhất một máy.
Thuốc gây mê Fentanyl lúc đó rất khó đem về. Tôi phải xin đóng gói hàng chì mang từ Nhật về, rồi xin phép Thủ tướng Phạm Hùng cho phép sử dụng và cam kết chỉ dùng cho ca mổ Việt - Đức. Khi họp bàn, bác sĩ Dương Quang Trung (Giám đốc Sở Y tế) quy tụ cả trăm chuyên gia để bàn phương án.
Ban đầu có ý kiến đề nghị bỏ Việt để cứu Đức. Nhưng quan điểm của tôi là phải giữ sinh mạng cho cả hai, vì tim Việt vẫn đập, vẫn thở, điện não đồ còn sóng thì về mặt nhân quyền phải tôn trọng.

Nhiều người hỏi tôi sao lúc đất nước còn nghèo khó, tốn kém vậy lại đi mổ ca Việt - Đức mà không để tiền đó lo cho những người khác? Tôi mới trả lời: Ví như người ta cho mình chai bia, mình không uống mà đòi đổi sang nước ngọt, nhỡ người ta lấy lại luôn không cho nữa thì sao? Việc viện trợ này cũng vậy, mình xin đúng mục đích mổ cho hai bé, dùng không hết thì phần kinh phí và thiết bị còn thừa lại đem phục vụ cho những bệnh nhân khác.
Đặc biệt là ca mổ Việt - Đức vang dội thế giới năm đó. Giữa lúc mình còn khó khăn, thiếu thốn đủ bề mà chúng ta lại làm được, thật sự rất là đáng nhớ.
Mà tôi nhớ nhất là trước khi mổ, Đức khóc, xin bác sĩ Dương Quang Trung (gọi là ông ngoại), bác sĩ Tạ Thị Chung (gọi là bà nội) và tôi (gọi là má): "Nếu không mổ tách ra khỏi Việt thì chắc con chết luôn với Việt thôi. Ban đêm Việt la lối con không ngủ được, Việt không ăn được làm con cũng không ăn được". Đức còn thủ thỉ với Việt: "Việt ơi, Việt tỉnh dậy đi, chứ không hai anh em mình sớm ra nghĩa địa quá".
Sau mổ, Việt sống đời sống thực vật thêm gần 20 năm mới mất. Còn Đức đi học, đi làm, lập gia đình, có hai con sắp vào đại học. Ca mổ là thắng lợi lớn về khoa học, vào kỷ lục Guinness và cũng là thắng lợi về mặt nhân văn, bởi mình đã cứu cuộc đời của một đứa trẻ.
Cô vừa nhắc đến hai ký ức vô cùng đặc biệt: Một bên là sự chắt chiu thầm lặng mà chỉ người trong cuộc mới hiểu của những năm 80–90, một bên là kỳ tích ca mổ Việt - Đức khiến cả thế giới phải ngả mũ!
Nhưng điều đó cũng chứng tỏ rằng Y tế Việt Nam mình rất giỏi, không hề thua kém ai, chúng ta chỉ thiếu thốn trang thiết bị thôi. Cho nên bây giờ, ngành y tế của mình đã ngang hàng rồi, không chỉ riêng trong khu vực mà trên cả bản đồ y khoa thế giới. Tôi rất tự hào!
Bức thư từ 'con trai'
Tại buổi trò chuyện hôm nay, chương trình có nhận được một lá thư gửi đến "Má Phượng" từ anh Đức (trong ca mổ Việt - Đức).







Kính gửi Má Phượng thương yêu của con,
Có lẽ suốt cuộc đời này, con sẽ không bao giờ có thể diễn tả hết lòng biết ơn và tình yêu thương mà con dành cho Má.
Từ sau ca đại phẫu lịch sử năm 1988, Má đã không chỉ là một người bác sĩ, Má còn là người mẹ thứ hai luôn dang rộng vòng tay chở che, chăm sóc và đồng hành cùng hai anh em con trên từng chặng đường giành lại sự sống. Chính tình yêu thương, sự hy sinh thầm lặng và tấm lòng bao dung của Má đã cho con cơ hội được sống, được lớn lên và được viết tiếp cuộc đời mình.
Cuộc đời con đã trải qua không ít lần đối diện với bệnh tật, đau đớn và những thử thách tưởng chừng không thể vượt qua. Nhưng mỗi khi nghĩ đến Má và những người đã dốc hết tâm huyết để cứu lấy cuộc đời mình, con lại tự nhủ phải mạnh mẽ hơn, phải sống thật ý nghĩa, thật tử tế và không bao giờ được phép bỏ cuộc. Đó cũng là cách con đáp lại tình yêu thương và sự hy sinh mà mọi người đã dành cho con.
Điều con mong mỏi nhất không phải điều gì lớn lao, mà chỉ là Má luôn mạnh khoẻ, bình an và mãi ở bên con như từ những ngày đầu tiên. Chỉ cần biết Má vẫn khoẻ mạnh, con đã thấy lòng mình ấm áp và có thêm động lực để bước tiếp.
Má mãi mãi là người mẹ thứ hai kính yêu của con. Dù thời gian có trôi qua bao lâu, lòng biết ơn, tình yêu thương và sự kính trọng của con dành cho Má sẽ không bao giờ thay đổi.
Con yêu Má thật nhiều.
Đọc thư tôi rất cảm động.
Tôi nuôi Đức từ vài tháng tuổi lúc đưa từ Sa Thầy ra Bệnh viện Việt Đức rồi chuyển vào Từ Dũ. Mỗi lần mệt mỏi hay buồn phiền, xuống Làng Hòa Bình gặp các cháu khuyết tật và Việt - Đức là tôi thấy cuộc đời mình đã quá hạnh phúc.
Ám ảnh sản phụ chết trẻ
Một dấu ấn khác của cô cũng mang lại giá trị rất lớn cho cộng đồng, đó là chương trình "Cô đỡ thôn bản"...
GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng: Cười tươi.
Nhắc đến đây, cô cười rất tươi. Vì sao ạ?
Tôi thích lắm!
Hồi xưa Bộ Y tế giao cho Bệnh viện Từ Dũ phụ trách chỉ đạo tuyến về chuyên môn cho cả khu vực miền Nam, gồm hai mươi mấy tỉnh thành. Tôi phân công các bác sĩ lớn tuổi, kinh nghiệm đi những tỉnh gần, còn bản thân mình thì trực tiếp đi các tỉnh xa và khó khăn nhất.
Mỗi tháng tôi đều lên Tây Nguyên để xem bệnh viện tỉnh, huyện đang gặp khó khăn gì nhằm kịp thời hỗ trợ, hướng dẫn. Khi xuống các xã, thôn bản, tôi sốc vô cùng khi chứng kiến những sản phụ còn rất trẻ, mới 22 tuổi mà đã đẻ 3-4 lần, rồi bị băng huyết tử vong.
Rất nhiều trường hợp đẻ không được ở bản làng, đến khi đưa lên tới xã, huyện hay tỉnh thì đã vỡ tử cung. Vỡ tử cung thì một là chết, hai là nếu sống được thì cũng phải cắt bỏ tử cung, nhìn đau xót lắm!
Có những trường hợp ngồi ngoài vườn ôm cây để rặn đẻ. Sinh con xong thì bế bé xuống rạch, xuống suối tắm, còn người mẹ ngồi đó chờ bánh nhau ra. Nhau không ra, người chồng ở ngoài lấy tay kéo dây rốn để lôi bánh nhau ra, làm cho tử cung bị lộn ngược lại, chảy máu, đau đớn dữ dội.
Khi người ta chở đến bệnh viện tỉnh cấp cứu, đúng lúc tôi đang ở đó nên vào phòng mổ ngay để đẩy tử cung trở lại và khâu cầm máu cứu sống họ. Đó là những bà mẹ còn rất trẻ!


Những thực trạng đau lòng đó đã thúc đẩy cô làm điều gì sau đó?
Tôi phản ánh ngay với Bộ Y tế.
Bộ Y tế sau đó làm một khảo sát về tỷ lệ tử vong bà mẹ và sơ sinh (tính trên 100.000 trẻ sinh sống) ở các vùng đồng bằng miền Bắc, miền Nam, các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, Cần Thơ so với các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Kết quả cho thấy tỷ lệ tử vong bà mẹ ở Tây Nguyên cao gấp hai mươi mấy lần so với TP.HCM.
Tội nghiệp lắm, nhìn những đám táng ở làng xã, những đứa trẻ mới 3-4 tuổi đã mất mẹ.
Trẻ sơ sinh thì bị uốn ván rốn rất nhiều, vì sinh ngoài đất rồi lấy kéo thường, dao thường cắt rốn rồi mang xuống suối tắm. Tôi nghĩ mình mang tiếng phụ trách chuyên môn mà để xảy ra chuyện như vậy là có lỗi và có trách nhiệm của mình. Phải làm sao để bà mẹ và em bé không còn bị chết, bị tai biến vì những chuyện như thế nữa.
Quá trình gieo mầm và xây dựng lực lượng "Cô đỡ thôn bản" từ những ngày đầu đã gặp những khó khăn, thử thách như thế nào?
Năm 1992, tôi lên bàn với Hội Phụ nữ tỉnh Bình Phước, bây giờ gom các cô gái ở các thôn bản lại để đào tạo. Nhưng các cô ở nhà là lao động chính làm ra tiền nuôi gia đình, nếu bắt đi học thì gia đình lấy gì sống? Thế là mình phải hỗ trợ một khoản tiền gửi về cho cha mẹ ở nhà yên tâm.
Đào tạo cực kỳ khó khăn vì nhiều em không biết nói tiếng Kinh, phải thuê người phiên dịch. Rồi phải lo toàn bộ chi phí ăn ở, sinh hoạt cho các em. Mỗi lớp khoảng 60 em. Tôi dạy các em cách khám thai, nhận biết các dấu hiệu bất thường để lập danh sách gửi về xã, huyện. Nhiệm vụ chính của các em là vận động bà mẹ đi khám và phát hiện nguy cơ để chuyển viện sớm chứ không được tự đỡ đẻ khó tại nhà.
Giai đoạn 1996-1997, chương trình làm được nhiều hơn. Đến trước khi tôi về hưu cuối năm 2005, riêng các tỉnh Tây Nguyên đã đào tạo được gần 1.000 cô đỡ thôn bản. Sau này mô hình mở rộng ra cả các tỉnh miền núi phía Bắc với hàng ngàn cô đỡ khác.
Nói thật sự, mình lo những kỹ thuật cao như IVF, phẫu thuật nội soi... nhưng tôi nghĩ làm bác sĩ phải 'hai vai': một vai gánh kỹ thuật cao, một vai gánh y tế cơ sở. Đừng bao giờ quên người dân nghèo ở các bản làng.
Tác dụng và sự lan tỏa của mô hình này sau đó đã được ghi nhận ra sao? Đến nay cô có còn giữ liên lạc với những người học trò đặc biệt này không?
Hiệu quả thấy rõ rệt. Ngành y tế và Hội Phụ nữ các tỉnh báo cáo về là tỷ lệ uốn ván rốn hạ thấp không còn nữa (vì cô đỡ hướng dẫn tiêm ngừa uốn ván), tỷ lệ tử vong mẹ giảm sâu gần như không còn. Sau này, Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) cũng công nhận tác dụng tuyệt vời của mô hình này nên tài trợ kinh phí để tiếp tục đào tạo.
Trước đây khi còn sức khỏe, mỗi năm 2 lần là dịp hè và cận Tết tôi đều lên tận nơi thăm các em. Tôi vận động Bệnh viện và các nhà hảo tâm quyên góp tiền, quà Tết, và đặc biệt là mua xe máy. Cứ 6 tháng 1 lần, nơi nào có em làm giỏi nhất là trao tặng một chiếc xe máy. Các em tranh đua nhau làm thật tốt để được bầu chọn nhận xe, vừa có phương tiện đi lại giúp dân, vừa gắn bó sâu sắc với nghề. Năm nay lớn tuổi lại có bệnh nên gia đình không cho đi xa nữa, nhưng những kỷ niệm đó tôi không bao giờ quên.
Bạc tóc khi làm IVF
Còn với ngành Hỗ trợ sinh sản (IVF), cánh cửa y học hiện đại đó đã được mở ra như thế nào ạ?
Tôi không nghĩ mình là người tiên phong, chỉ đơn giản là thấy bệnh nhân đau khổ vì điều gì thì trách nhiệm bác sĩ phải giải quyết.
Thời đó, hai vợ chồng không có con là quy hết trách nhiệm cho người vợ, bắt ly dị. Khi làm IVF thành công, tôi công bố cho cả nước biết: Nam giới chịu 40% trách nhiệm (bằng phụ nữ), phụ nữ 40%, 10% do cả hai và 10% không rõ nguyên nhân, từ đó người ta không còn đổ thừa cho người phụ nữ nữa.
Ngày 30/4/1998, em bé IVF đầu tiên ra đời bằng phương pháp mổ lấy thai. Cha bé là anh Lưu Tấn Trực, một cựu tù chính trị Côn Đảo, hơn 50 tuổi mới có đứa con đầu lòng. Khi bồng con ra trao cho anh, anh Trực khóc và đứng chắp tay vái cảm ơn. Cảnh tượng đó làm tôi rơi nước mắt.

Năm 1997, khi làm IVF đợt đầu cho 36 người, cứ một người có kinh nguyệt, thử thai thất bại là tối về tôi bỏ ăn mất ngủ. Lo lắng đến mức tóc tôi bạc phơ hoàn toàn từ năm đó, tóc đen hiện tại là do tôi nhuộm. May mắn đợt đó đạt tỷ lệ thành công gần 30%. Đến nay, ngành IVF Việt Nam đã rất phát triển, bác sĩ từ Mỹ, Australia, Pháp, Đức... cũng sang Việt Nam để học hỏi kỹ thuật.
Tóc tôi bạc phơ từ năm 1997 vì quá lo lắng cho 36 ca IVF đầu tiên. Nhưng điều tôi trăn trở nhất hiện nay là tình trạng kết hôn và sinh con quá muộn ở giới trẻ, làm gia tăng nguy cơ hiếm muộn và gây tốn kém, tổn thương tâm lý rất lớn.
Bây giờ người trẻ hay nói vui 'ai cũng phải bắt đầu từ đâu đó'. Quay ngược thời gian, điểm bắt đầu nào đã khiến cô nữ sinh Ngọc Phượng lúc ấy chọn ngành Phụ sản? Và điều gì đã thôi thúc cô chọn ở lại Việt Nam sau năm 1975?"
Hồi học dự bị y khoa, tôi kèm học cho một chị trưởng phòng sinh ở Bệnh viện Từ Dũ (chị Ánh). Chị cho tôi đi trực đêm cùng. Chứng kiến người ta đau đớn rồi rặn ra đứa bé khóc "oa oa oa..." là hết đau, hay những ca thai suy được mổ cứu sống kịp thời, tôi thấy ngành Phụ sản hay quá, vì chăm sóc một người mà cứu được hai sinh mạng.
Nhưng ngành này cũng khó khăn. Những năm 80 làm gì đã có siêu âm. Đến năm 1984, tôi sang Đức xin được 2 cái máy siêu âm mang về, rồi mới nhìn thấy được em bé. Bây giờ thì ở đâu cũng có siêu âm rồi, chứ hồi đó tất cả chỉ dựa vào đôi bàn tay. Bác sĩ phải sờ sờ bụng để đoán xem đâu là đầu, đâu là mông, nước ối nhiều hay ít. Bàn tay thời đó khám nhiều nên nhạy lắm, sờ cổ tử cung là biết ngay nhau bám ở đâu.
Sau năm 1975, báo chí hỏi tại sao tôi ở lại, tôi nói: Nước tôi thì tôi ở, có mấy chục triệu người ở sao không hỏi mà cứ hỏi tôi? Tôi ăn cơm ít mà làm nhiều sao cứ đòi đuổi tôi đi (cười). Tôi nghĩ đã ở lại thì phải làm được gì có ích chứ không thể làng nhàng tốn cơm được.
Trong các vai trò bác sĩ, nhà khoa học, nhà quản lý, người thầy... vai trò nào cô cảm thấy tự hào nhất?
Hai vai trò tôi tự hào nhất là làm Bác sĩ và làm Thầy. Làm bác sĩ thì đam mê cứu người. Làm thầy (Chủ nhiệm bộ môn tại ĐH Y Dược và ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch) thì truyền lại kinh nghiệm 60 năm cho đàn em.
Tôi luôn dạy bác sĩ trẻ 4 giá trị cốt lõi: An toàn - Hiệu quả - Chuyên nghiệp - Nhân văn. Trong đó, Nhân văn là quan trọng nhất. Đối xử với bệnh nhân không phải ban ơn mà phải tôn trọng, bình đẳng và tình cảm. Người bệnh bớt bệnh 50% là nhờ tinh thần và thái độ chân thành của người bác sĩ.
“Ước mơ tạm được” sau 60 năm làm nghề
Nếu vẽ một vị trí cho ngành Sản phụ khoa Việt Nam trên bản đồ y học thế giới, cô nghĩ chúng ta đang đứng ở đâu?
Ôi vị trí của mình cao lắm, không thấp đâu! Gần như kỹ thuật nào trên thế giới làm được thì mình cũng làm được. Có những kỹ thuật rất khó chúng ta vẫn làm tốt, thậm chí tốt hơn nhiều nước trên thế giới.
Đây không phải là sự tự cao mà là thực tế đang diễn ra. Không riêng gì ngành Sản phụ khoa mà các chuyên khoa khác trong ngành Y tế Việt Nam hiện nay cũng đều đạt được trình độ như vậy.
Với vị thế đó, cô đã cảm thấy hài lòng chưa? Ngành y của chúng ta có còn điều gì cần nỗ lực hơn nữa?
Điều cần làm tốt hơn nữa chính là thái độ phục vụ, làm sao để bệnh nhân bước vào khám và khi trở về nhà đều cảm thấy yên tâm. Năng lực chuyên môn của bác sĩ, sự chăm sóc của điều dưỡng hay thuốc tốt là rất quan trọng, nhưng môi trường y tế sạch sẽ, tươm tất. Ví như nhà vệ sinh phải sạch, cùng thái độ phục vụ tận tình mới là những yếu tố giúp quá trình điều trị đạt hiệu quả cao nhất.

“Hơn 50 năm làm nghề, bài học lớn nhất tôi muốn truyền lại cho học trò là chữ Nhân văn. Người bệnh bớt bệnh một nửa là nhờ thái độ chân thành và sự đồng cảm của người bác sĩ.”
GS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng
Sau 60 năm bền bỉ đi trên con đường y học, quay trở lại với ước mơ của cô gái Ngọc Phượng thời hai mươi mấy tuổi, cô nghĩ đến nay ước mơ đó đã thành hiện thực chưa?
Cũng... tạm được! Quan trọng nhất vẫn là thực tế bệnh nhân cần cái gì thì mình ráng hết sức hỗ trợ cái đó. Cho tới tận bây giờ, tôi vẫn giữ nguyên tinh thần làm nghề như vậy.
Mỗi khi khám bệnh, tôi luôn dặn các bác sĩ trẻ phải hỏi kỹ lý do người ta đến với mình, người ta mong con thì phải tìm mọi cách giúp người ta có con; người ta có khối u buồng trứng thì phải xem xét cẩn trọng lành tính hay ác tính để xử trí cho người ta yên tâm. Cuộc đời của người bác sĩ hay người làm nghề y suy cho cùng cũng chỉ đơn giản như vậy.
Nếu để thế hệ sau nhắc và nhớ về GS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng, cô mong muốn mọi người nhớ về hình ảnh của mình như thế nào?
Nhớ tôi là một bác sĩ thôi. Một người bác sĩ bình thường như bao bác sĩ khác. Bác sĩ là có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân không chỉ về bệnh tật, thể chất mà cả về mặt tinh thần. Vậy thôi, bác sĩ nào cũng giống như vậy cả.


MediVoice / Znews Sức khoẻ











