GS Nguyễn Thiện Nhân: Phải làm sao để sinh con hạnh phúc hơn độc thân

Mức sinh thấp kéo dài đang đặt Việt Nam trước bài toán dân số chưa từng có. GS.TS Nguyễn Thiện Nhân cảnh báo nếu không hành động sớm, hệ lụy sẽ kéo dài nhiều thế hệ.

GS Nguyễn Thiện Nhân: Phải làm sao để sinh con hạnh phúc hơn độc thân

Mức sinh thấp kéo dài đang đặt Việt Nam trước bài toán dân số chưa từng có. GS.TS Nguyễn Thiện Nhân cảnh báo nếu không hành động sớm, hệ lụy sẽ kéo dài nhiều thế hệ.

Tỷ suất sinh giảm dưới mức thay thế không còn là chuyện cá nhân mà là nguy cơ tồn vong quốc gia, nhìn từ bài học Nhật Bản hay Hàn Quốc. Tại Việt Nam, từ năm 2006 đến nay, mức sinh đã dưới mức sinh thay thế.

Tri Thức - Znews đã có cuộc trao đổi với GS.TS Nguyễn Thiện Nhân - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM, nguyên đại biểu Quốc hội - người đã kiên trì theo đuổi và cảnh báo về bài toán dân số trên các diễn đàn suốt hơn thập kỷ qua, để mổ xẻ nguyên nhân giới trẻ "sợ đẻ" và đề xuất giải pháp đột phá để Việt Nam tránh "vết xe đổ" này.

Tri Thức - Znews

Nội dung cuộc trao đổi

Nội dung

Mức sinh thấp - “quả bom” có độ trễ

Vì sao người trẻ “ngại” sinh con?

Từ “khuyến sinh” sang tạo đủ điều kiện

Nếu mức sinh không trở lại 2,1

Mức sinh thấp - “quả bom” có độ trễ

Thưa GS.TS Nguyễn Thiện Nhân, nhìn lại năm 2015 - thời điểm Việt Nam vẫn duy trì mức sinh thay thế khoảng 2,1 con/phụ nữ - điều gì khiến ông nhận diện sớm nguy cơ và đưa ra cảnh báo trước Quốc hội? Để rồi sau đó, ông kiên trì theo đuổi bài toán này suốt hơn một thập kỷ?

Để hiểu vì sao tôi quan tâm đến vấn đề này, phải quay lại năm 2007, khi tôi được giao nhiệm vụ làm Phó Thủ tướng Chính phủ, kiêm Trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia về Dân số và Kế hoạch hóa gia đình. Từ đó, tôi bắt đầu đi sâu nghiên cứu và theo dõi vấn đề dân số Việt Nam.

Tôi nhận thấy mức sinh giảm rất nhanh. Những năm 1960, trung bình mỗi phụ nữ Việt Nam sinh khoảng 6 con; đến những năm 1980 còn hơn 4 con; năm 2000 là 2,3 và đến năm 2015 còn khoảng 2,1.

Điều tôi đặc biệt lưu ý là 2,1 không chỉ là một con số, mà là mức sinh thay thế. Khi một quốc gia duy trì mức sinh ổn định quanh mức này, về lâu dài sẽ giữ được quy mô lao động và dân số ổn định. Kinh nghiệm tất cả các nước cho thấy, một khi mức sinh đã xuống dưới mức thay thế thì chưa có nước nào thành công trong việc đưa mức sinh trở lại mức sinh thay thế và điều này sẽ dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng với đất nước.

Vì vậy, khi Việt Nam vẫn còn ở mức 2,1, tôi cho rằng đây là lúc phải nghiên cứu để tìm ra cách giữ vững mức sinh, chứ không nên chờ đến khi giảm sâu mới ứng phó. Không nước nào có sẵn một “công thức thành công” để chúng ta áp dụng. Việt Nam phải chủ động nghiên cứu nguyên nhân và xây dựng giải pháp phù hợp với điều kiện của mình.

Biểu đồ 01

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Dân số vẫn tăng, mức sinh đã rơi

Giai đoạn 2011-2024. Dân số trung bình tăng liên tục, trong khi tổng tỷ suất sinh trượt khỏi mức sinh thay thế 2,1 con/phụ nữ.

Dân số trung bình

Tổng tỷ suất sinh

Mức sinh thay thế 2,1

2011 · Dân số 88,1 triệu · Mức sinh 1,99 con/phụ nữ

GS.TS Nguyễn Thiện Nhân dành nhiều tâm huyết cho vấn đề tỷ suất sinh giảm, thường xuyên nghiên cứu vấn đề này ở các nước trên thế giới.

Vì sao mức sinh thấp được coi là một “khủng hoảng thầm lặng” nhưng đặc biệt nguy hiểm với sự phát triển của một quốc gia? Điều gì khiến nguy cơ này rất khó nhận biết trong giai đoạn đầu?

Đặc điểm nguy hiểm nhất của bài toán nhân khẩu học là độ trễ thời gian. Một đứa trẻ sinh ra hôm nay phải mất khoảng 18-22 năm mới bước vào lực lượng lao động. Vì vậy, trong 20 năm đầu sau khi mức sinh giảm, lãnh đạo quốc gia và xã hội không thấy hậu quả vì lực lượng lao động không suy giảm.

Nhưng sau 2 thập kỷ, khi sự thiếu hụt nhân lực bắt đầu xuất hiện thì không thể khắc phục nhanh. Phải hàng chục năm mới có thể khắc phục được, nếu tìm được các giải pháp tăng mức sinh trở lại mức thay thế.

Nhật Bản là một bài học rõ. Họ bước vào giai đoạn sinh không đủ từ năm 1974. Đến năm 1999, Bộ Sức khỏe và An sinh Nhật Bản dự báo sau 1.000 năm, từ 123 triệu dân, nước này chỉ còn 500 người vào năm 3000. Năm 2006, Viện Nghiên cứu Quốc gia về Dân số và An ninh xã hội Nhật Bản dự báo lại chỉ còn 62 người. Dù nhận thấy nguy cơ, các giải pháp của Chính phủ trong suốt 33 năm (1990-2023) vẫn không đưa mức sinh trở lại mức thay thế. Năm 2023, Thủ tướng Nhật Bản Kishida đã phát biểu trước Hạ viện: “Khủng hoảng dân số là khủng hoảng lớn nhất của Nhật Bản. Phải giải quyết bây giờ hoặc không bao giờ giải quyết được”.

Hàn Quốc cũng là một trường hợp đáng lưu ý. Nước này bước vào giai đoạn sinh không đủ từ năm 1983. Một nghiên cứu được công bố năm 2014 từng cảnh báo rằng nếu duy trì mức sinh rất thấp (1,21 của năm 2014), dân số Hàn Quốc sẽ bằng 0 vào năm 2750. Hiện nay mức sinh của Hàn Quốc đã rớt xuống 0,8 - nguy cơ tự tiêu vong đang đến nhanh hơn dự báo.

Những trường hợp đó cho thấy một điều rất quan trọng: hậu quả của mức sinh thấp không xuất hiện ngay, nhưng khi đã bộc lộ thì ngày càng trầm trọng và đến nay chưa có cách nào ngăn chặn hậu quả này. Nếu Việt Nam không can thiệp từ bây giờ, chúng ta sẽ đi theo con đường của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc.

Việt Nam đang ở giai đoạn nào của quá trình suy giảm mức sinh?

Việt Nam đã xuống dưới mức sinh thay thế 2,1 con/phụ nữ từ năm 2006, với mức sinh là 2,09. Bình quân mức sinh giai đoạn 2006-2010 là 2,054; giai đoạn 2011-2015 là 2,066; giai đoạn 2016-2020 là 2,078 và giai đoạn 2021-2025 là 1,984. Năm 2024, mức sinh giảm xuống 1,91 con/phụ nữ, mức thấp nhất từng ghi nhận; năm 2025 tăng nhẹ lên 1,93, nhưng vẫn dưới mức sinh thay thế.

Nếu xu hướng này kéo dài, trong 10-20 năm tới chúng ta sẽ phải đối mặt với sự suy giảm lực lượng lao động, ảnh hưởng tiêu cực đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số và già hóa dân số nhanh hơn, tạo áp lực ngày càng lớn lên hệ thống an sinh xã hội.

Theo dự báo, khoảng năm 2035 dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam đạt đỉnh rồi bắt đầu giảm. Để điều này không xảy ra thì ngay bây giờ chúng ta phải thay đổi chính sách, giáo dục và truyền thống.

GS.TS Nguyễn Thiện Nhân xem lại các tài liệu phục vụ nghiên cứu về dân số.

Vì sao người trẻ “ngại” sinh con?

Theo ông, đâu là những rào cản lớn nhất khiến người trẻ không dám sinh con hoặc chọn hoãn sinh?

Nếu nhìn dưới góc độ xã hội học và kinh tế học, tôi cho rằng cách ứng xử của giới trẻ hiện nay là một phản ứng hoàn toàn đúng quy luật với những gì chúng ta đã giáo dục và trước những điều kiện sống của họ hiện nay.

Thanh niên hiện nay là sản phẩm giáo dục của gia đình, nhà trường, là kết quả của chính sách xã hội, thực tiễn kinh tế - xã hội của đất nước và hoàn cảnh cụ thể của mỗi người. Nếu kết hôn và sinh con làm cho họ hạnh phúc hơn sống độc thân thì chắc chắn họ muốn kết hôn và sinh con.

Vì vậy, nếu chỉ vận động hay trách người trẻ thì không thể tăng được mức sinh. Muốn họ thay đổi quyết định sinh con, trước hết phải thay đổi những điều kiện khiến họ lo ngại khi sinh con, không thấy hạnh phúc hơn khi có con.

Một phụ nữ ở Hàn Quốc nói rằng sinh con có thể là một tội ác khi họ không đủ điều kiện mang lại cho con sự phát triển tốt nhất mà họ mong muốn. Đó là một cách nghĩ rất đau lòng, nhưng là thực tế mà những nhà làm chính sách phải thấu hiểu tại sao họ lại nghĩ như vậy.

GS.TS Nguyễn Thiện Nhân phân tích những rào cản khiến người trẻ ngại sinh con.

Vậy đâu là những điều kiện căn bản để một cặp vợ chồng trẻ cảm thấy yên tâm sinh và nuôi dạy hai con?

Theo tôi, Nhà nước và xã hội cần tạo đủ các điều kiện để người trẻ có thể vừa lập nghiệp và vừa xây dựng gia đình hạnh phúc, sinh đủ con để đất nước phát triển bền vững, dân tộc trường tồn.

7 điều kiện căn bản

Theo GS.TS Nguyễn Thiện Nhân

Để người trẻ yên tâm sinh và nuôi hai con

Chọn từng thẻ để đọc đầy đủ.

Nhà ở chi phí phù hợp

Thứ nhất, nhà ở với chi phí phù hợp (thuê, mua, ở nhà cha mẹ…) để gia đình 4 người có thể sống không khó khăn.

Nơi gửi trẻ an toàn, giá rẻ

Thứ hai, nơi gửi trẻ an toàn, chất lượng và chi phí phù hợp khi người mẹ trở lại làm việc.

Bảo hiểm y tế toàn diện

Thứ ba, có bảo hiểm y tế để gia đình không phải đối mặt với những rủi ro tài chính lớn khi ốm đau.

Lương đủ sống

Thứ tư, phải có lương đủ sống. Thu nhập của một người đi làm phải đủ nuôi bản thân và ít nhất một người con cho đến 18 tuổi. Khi hai vợ chồng cộng lại đạt mức đó trở lên, họ mới có khả năng nuôi hai con.

Bảo hiểm xã hội vững chắc

Thứ năm, bảo hiểm xã hội đủ vững để người trẻ yên tâm về an sinh khi về già.

Môi trường xã hội coi trọng việc sinh con

Thứ sáu, có một môi trường xã hội mà Chính phủ, mỗi người sử dụng lao động, mỗi cộng động dân cư, mỗi gia đình đều coi việc sinh và nuôi dạy con sẽ quyết định tương lai đất nước.

Giáo dục: Môn “Hạnh phúc học”

Thứ bảy, là cần đổi mới giáo dục để thanh niên hiểu được giá trị không gì thay thế được hạnh phúc gia đình. Họ có kỹ năng để xây dựng gia đình hạnh phúc, biết làm chồng làm vợ hạnh phúc, biết làm cha làm mẹ hạnh phúc và đưa môn học “Hạnh phúc học cho người Việt Nam” vào dạy ở bậc phổ thông. Song song đó, mỗi thanh niên cần hiểu được rằng yêu nước thì phải có khát vọng sinh con để đất nước phát triển bền vững, dân tộc trường tồn.

Khi các bạn thấy tự tin, đủ hiểu biết và kỹ năng để chọn người bạn đời phù hợp, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, tôi tin các bạn sẽ quyết định hợp lý về thời điểm kết hôn, sinh con và số con

GS.TS Nguyễn Thiện Nhân

Công cụ mô phỏng

Bài toán tài chính nuôi con

Nuôi con chiếm bao nhiêu phần thu nhập của gia đình bạn?

Thu nhập hàng tháng

35.000.000 VNĐ/tháng

Số con dự định nuôi1 con2 con

Chi phí giáo dục

VNĐ/tháng

2 triệu

5 triệu

12 triệu

20 triệu

Chi phí y tế và dự phòng sức khỏe

VNĐ/tháng

1,5 triệu

2,5 triệu

4 triệu

Chi phí dinh dưỡng - sinh hoạt cơ bản

VNĐ/tháng

3 triệu

4 triệu

5 triệu

Chi phí nuôi con mỗi tháng = giáo dục + y tế + sinh hoạt. Tỷ lệ gánh nặng = chi phí đó nhân số con, chia cho thu nhập gia đình.

0%

An toàn

Ngân sách gia đình đảm bảo cho con phát triển tốt mà vẫn dư dả để tích lũy dài hạn.

Chi phí ước tính trong 18 năm

0 đồng

Mốc GS Nhân nêu trong bài: 1-1,5 tỷ đồng cho một trẻ đến 18 tuổi.

Công cụ mô phỏng, chỉ mang tính tham khảo.

Từ “khuyến sinh” sang tạo đủ các điều kiện để người trẻ sinh con

Theo ông, đâu là điểm nghẽn khiến các chính sách khuyến sinh chưa tạo được đột phá?

Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng về nhận thức và thể chế. Nghị quyết 21/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, rồi Luật Dân số được Quốc hội thông qua năm 2025 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 đã đặt mục tiêu duy trì mức sinh thay thế với các đột phá về tư duy và giải pháp.

Tuy nhiên, do đây là vấn đề khó mà đến nay chưa nước nào giải quyết thành công nên phải qua thực tiễn triển khai Luật Dân số để hoàn thiện và tổ chức thực hiện.

Các chính sách khuyến sinh như thưởng vài triệu đồng cho các bà mẹ sinh con thứ 2 dưới 35 tuổi, hỗ trợ chi phí khám sàng lọc bệnh bẩm sinh trước khi sinh có tác dụng động viên, song không thể giải quyết bài toán chi phí nuôi dạy con đến 18 tuổi. Ở các đô thị của Việt Nam hiện nay, nuôi một đứa trẻ đến 18 tuổi cần khoảng 1-1,5 tỉ đồng.

Muốn giải quyết bài toán mức sinh, phải coi việc tạo các điều kiện để người trẻ sinh và có thể nuôi con, cảm thấy hạnh phúc hơn sống độc thân là một khoản đầu tư của toàn xã hội cho nguồn nhân lực tương lai và sự phát triển dài hạn của quốc gia, chứ không chỉ là chính sách hỗ trợ từng gia đình.

Đâu là những giải pháp đột phá cần ưu tiên để “đảo chiều” mức sinh, thưa ông?

Trước hết, chúng ta phải hành động ngay, không thể chờ mức sinh giảm sâu hơn mới tìm lời giải. Vì Việt Nam đang trải qua 20 năm mức sinh dưới mức thay thế và xu hướng tất yếu là mức sinh sẽ giảm nếu không có giải pháp đột phá.

Việt Nam có lợi thế là đã nhận diện vấn đề khi mức sinh chưa xuống quá thấp. Bây giờ cần biến quyết tâm chính trị thành chính sách cụ thể, đồng bộ và đủ mạnh.

Từ đó, tôi cho rằng có ba việc cần làm ngay.

GS.TS Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh ba nhóm giải pháp cần được thực hiện sớm.

Thứ nhất, thay đổi nhận thức xã hội. Duy trì mức sinh thay thế không chỉ là việc của mỗi gia đình mà sẽ quyết định tương lai phát triển đất nước trong 30-50 năm và hàng trăm năm tới. Ngoài trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp cũng phải nhìn nhận trách nhiệm của mình: không chỉ trả lương để người lao động có thể tái tạo sức lao động mà phải đủ để nuôi con, cho con học hành và tạo ra thế hệ lao động tương lai cho chính các doanh nghiệp và đất nước.

Báo chí cần giữ nhịp thảo luận thường xuyên về chủ đề này, về kết quả thực hiện Luật Dân số 2025 để mọi người, mọi tổ chức, cơ quan đều coi dân số là vấn đề quyết định vận mệnh quốc gia.

Thông điệp với người trẻ cũng cần thay đổi: lập nghiệp là tạo dựng tương lai cho bản thân, còn xây dựng gia đình và nuôi dưỡng thế hệ sau vừa là hạnh phúc của bản thân vừa là góp phần đảm bảo tương lai đất nước. Chỉ có người ở độ tuổi lao động mới sinh được con. Người về hưu và rô-bốt không sinh được con. Nếu người lao động không sinh con, xã hội sẽ tự tiêu vong.

Thứ hai, xây dựng lộ trình khoảng 7-10 năm để chuyển từ Chính phủ quy định “lương tối thiểu” sang quy định “lương đủ sống”, để lương người đi làm ít nhất đủ nuôi bản thân và 1 con cho đến 18 tuổi. Cần chuyển từ tư duy khuyến sinh sang tư duy đảm bảo các điều kiện khách quan (7 điều kiện căn bản) để kết hôn và sinh từ 2 con trở lên thành lựa chọn tất yếu của thanh niên vì hạnh phúc chính mình, vì tương lai đất nước.

Thứ ba, triển khai mạnh chương trình nhà ở xã hội. Có thể nghiên cứu cơ chế để người mới kết hôn có quyền đăng ký thuê hoặc mua nhà ở xã hội trong một thời hạn nhất định, khoảng 3-5 năm. Điều quan trọng là họ biết mình có cơ hội tiếp cận nhà ở, từ đó có thể chủ động lập kế hoạch cuộc sống, trong đó có việc sinh con.

Riêng với TP.HCM - địa phương có mức sinh thấp nhất cả nước với dao động ở mức 1,39 đến 1,51 con/phụ nữ - ông có gợi ý chính sách đặc thù nào?

Tôi cho rằng mức sinh thấp ở TP.HCM là hệ quả của chính điều kiện sống ở một đô thị lớn. Mức sinh của TP.HCM đã dưới mức thay thế 26 năm. Nếu không có người nhập cư thì dân số và kinh tế của thành phố không thể được như hôm nay.

Theo tôi, TP.HCM cần tập trung giải quyết 3 bài toán.

GS.TS Nguyễn Thiện Nhân xem lại tài liệu trong buổi trao đổi.

Ba bài toán của TP.HCM

Nơi có mức sinh thấp nhất cả nước

Nhà ở xã hội cho lao động nhập cư

26 năm

TP.HCM đã ở dưới mức sinh thay thế

Từ lương tối thiểu sang lương đủ sống

5,3 triệu

Mức lương tối thiểu mỗi tháng hiện nay

Đề án đặc biệt về nhà trẻ, mầm non

1,39-1,51

Con/phụ nữ, thấp nhất cả nước

Thứ nhất là nhà ở, đặc biệt đối với người lao động nhập cư. TP.HCM phát triển được như hôm nay có đóng góp rất lớn của lực lượng này. Nhưng phần lớn người nhập cư vẫn sống trong nhà trọ. Một căn phòng trọ có thể phù hợp với một người hoặc một cặp vợ chồng, nhưng khi có hai con thì đòi hỏi của cuộc sống hoàn toàn khác.

Để người lao động yên tâm ở lại, kết hôn và sinh 2 con, thành phố cần có chương trình nhà ở phù hợp với khả năng chi trả của người lao động nhập cư.

Thứ hai là thu nhập phải đủ sống. TP.HCM có năng suất lao động và GDP bình quân đầu người thuộc nhóm cao nhất cả nước, nhưng với mức lương tối thiểu 5,3 triệu đồng/tháng hiện nay, người lao động không thể nuôi được con. Vì vậy, vấn đề không chỉ là mức lương tối thiểu ở TP.HCM cao hơn nơi khác mà là thu nhập đó có đủ để người lao động nuôi bản thân và nuôi con hay không. Nếu không đủ thì không nên chờ đợi bình quân tất cả phụ nữ sẽ sinh 2 con. TP.HCM sẽ không thể đạt mức sinh thay thế.

Thứ ba là phải có một đề án đặc biệt về nhà trẻ, giáo dục mầm non. Thành phố cần khảo sát rất cụ thể để biết người lao động sau khi sinh con có thể tìm được nơi gửi trẻ an toàn, gần nhà hoặc gần nơi làm việc và có chi phí chấp nhận được hay không. Cần xác định những khu vực thiếu nhà trẻ, nhu cầu thực tế của người lao động và có lộ trình giải quyết.

TP.HCM có tiềm lực kinh tế để đi trước, thí điểm những chính sách mới; nếu hiệu quả sẽ là các điển hình có thể nhân rộng cho cả nước.

Cuối cùng, ông muốn gửi gắm thông điệp gì đến những người trẻ đang đứng giữa lựa chọn lập nghiệp và sinh con?

Khi đất nước bị đô hộ, bị xâm lược, các thế hệ ông cha đã lên đường ra trận và giành lại độc lập, tự do cho đất nước, mặc dù họ biết có thể không bao giờ trở về. Không có sự hi sinh cao cả đó, chúng ta không có một Việt Nam với dân số hơn 102 triệu, với GDP hơn 500 tỷ USD (đứng thứ 32 trên thế giới).

Những người trẻ Việt Nam yêu nước đều muốn đất nước phát triển nhanh hơn, người dân hạnh phúc hơn và dân tộc trường tồn.

Nếu mức sinh không đạt bình quân 2,1 con/phụ nữ và tiếp tục thấp, dự báo mức sinh của Việt Nam năm 2050 chỉ còn 1,63 và năm 2100 là 1,38 thì dân số năm 3000 có thể chỉ còn không quá 150.000 người. Người Việt Nam yêu nước sẽ không hạnh phúc với tương lai đó. Không sinh đủ 2,1 con/phụ nữ, Việt Nam có thể bước vào lộ trình tự tiêu vong sau 1.000 năm.

Kết hôn và sinh con là quyết định riêng của mỗi người và cần được tôn trọng. Trong những điều kiện nhất định, gia đình và con cái chính là hạnh phúc không gì thay thế được của đời người.

Lớp người chúng tôi, nay đã ngoài 70, 50 năm trước khi suy nghĩ về kết hôn và sinh con thì không được dạy, được học để biết cách làm chồng, làm vợ hạnh phúc, biết cách làm cha, làm mẹ hạnh phúc. Nếu chúng tôi được dạy về những điều này thì chúng tôi đã hạnh phúc hơn, con cái của chúng tôi đã hạnh phúc hơn. Các bạn trẻ nên tìm đến các trung tâm tư vấn, trước hết của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh hoặc tìm trên mạng các khóa học về làm thế nào có hôn nhân hạnh phúc, làm thế nào để nuôi dạy con đúng khoa học và phù hợp với văn hóa Việt Nam.

Thế hệ trẻ hôm nay đều muốn đóng góp cho phát triển đất nước.

Nếu mức sinh không trở lại 2,1, Việt Nam sẽ đi về đâu?

Được biết, ông đã xây dựng một mô hình dự báo dân số Việt Nam trong nhiều thế kỷ. Nếu mức sinh không phục hồi về ngưỡng thay thế, điều gì có thể xảy ra?

Để cảnh báo về nguy cơ mà Việt Nam có thể đối diện, tôi xây dựng một dự báo thô, dựa trên những giả định khác nhau về mức sinh và 4 tham số khác. Mục đích không phải khẳng định chính xác dân số Việt Nam vào năm 2500 hay 3000, mà để hình dung tác động của mức sinh thấp kéo dài.

Tôi đặt ra hai kịch bản. Nếu mức sinh giảm xuống 1,4 vào năm 2100 và 1,3 vào năm 2200 và duy trì lâu dài, kết quả dự báo cho thấy dân số Việt Nam sẽ giảm rất mạnh: khoảng 88 triệu người vào năm 2100; 46 triệu vào năm 2200; 22,5 triệu vào năm 2300, khoảng 5,2 triệu vào năm 2500 và khoảng 136.000 người vào năm 3000.

Ngược lại, nếu mức sinh từng bước phục hồi và trở lại 2,1 vào năm 2100, dân số có thể ổn định quanh mức 96,7 triệu người năm 3000. Tôi đưa ra phép tính này để nhấn mạnh rằng chính sách dân số phải được nhìn trong thời gian rất dài. Hành động càng sớm thì càng có nhiều khả năng giữ được quy mô ít suy giảm so với khi cao nhất.

Biểu đồ 02

Mô phỏng minh họa của GS.TS Nguyễn Thiện Nhân

Hai kịch bản dân số đến năm 3000

Thang logarit, đơn vị: người. Dự báo dựa trên các giả định khác nhau về mức sinh và 4 tham số khác, nhằm hình dung tác động của mức sinh thấp kéo dài.

Mức sinh tiếp tục thấp

Phục hồi về mức sinh thay thế

Dân số năm 3000 nếu mức sinh tiếp tục thấp

136.000

Thông điệp gửi người trẻ

GS.TS Nguyễn Thiện Nhân

Nếu kết hôn và sinh con làm cho họ hạnh phúc hơn sống độc thân thì chắc chắn họ muốn kết hôn và sinh con

GS.TS Nguyễn Thiện Nhân

Những loại vi khuẩn mang bộ mặt của cừu non

Trong cơ thể người có một hệ thống vi sinh vật rất phong phú. Chúng có công rất lớn trong việc xây dựng hàng rào miễn dịch và đề kháng cho cơ thể. Thế nhưng, việc lạm dụng kháng sinh đã gây ảnh hưởng xấu đến hệ vi sinh vật trong cơ thể. Cuốn sách "Siêu tổ chức con người" của tác giả Rodney Dietert đem tới cho bạn đọc những kiến thức hữu ích để bảo vệ hàng rào đề kháng tự nhiên của cơ thể và xây dựng lối sống lành mạnh.

Phan Anh

Đồ họa: Xuân Sang

Nguồn Znews: https://lifestyle.zingnews.vn/gs-nguyen-thien-nhan-phai-lam-sao-de-sinh-con-hanh-phuc-hon-doc-than-post1681956.html