Hà Nội trước áp lực rác thải xây dựng: Lời giải từ góc nhìn quy hoạch và kinh tế tuần hoàn
Hà Nội đang trải qua giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ với hàng loạt đại dự án hạ tầng và chỉnh trang đô thị. Đằng sau sự thay da đổi thịt ấy là một áp lực môi trường khổng lồ: hàng nghìn tấn phế thải xây dựng phát sinh mỗi ngày khiến các bãi chứa quá tải.
Theo báo cáo mới nhất của Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Hà Nội, hiện nay, mỗi ngày, trên địa bàn Thành phố phát sinh khoảng 3.000-3.400 tấn chất thải rắn xây dựng, cao điểm có thể đạt khoảng 10.000 tấn/ngày. Khoảng 90% chất thải rắn xây dựng là vật liệu vô cơ. Dự báo đến năm 2030 khối lượng chất thải rắn phát sinh bình quân khoảng gần 5.000 tấn/ngày.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lê Thanh Nam cho biết, đối với chất thải rắn xây dựng, TP đã quy hoạch tại 8 vị trí, với tổng công suất xử lý đến năm 2030 là 7.640 tấn/ngày; đang quy hoạch tiếp tại 2 vị trí, đủ đáp ứng yêu cầu xử lý (khi các dự án đi vào hoạt động); đã xác định được 21 vị trí đất với diện tích khoảng 97,74 ha trên địa bàn 15 xã, phường đáp ứng đủ điều kiện cho thuê tạm, thời hạn 5 năm.

Hà Nội đang từng bước chuyển đổi tư duy từ xử lý chất thải sang tái chế tài nguyên. (Ảnh: VGP/Thùy Chi)
Theo Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Bùi Duy Cường, Thành phố đặt mục tiêu cân bằng giữa lượng phát sinh và xử lý chất thải rắn xây dựng vào cuối năm 2026. Về định hướng lâu dài, Thành phố đang nghiên cứu hai khu tập kết, xử lý vật liệu và chất thải quy mô trên 100ha tại xã Trung Giã và Vật Lại.
Trước tình trạng khối lượng chất thải rắn xây dựng phát sinh ngày càng lớn, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Nguyễn Trọng Đông yêu cầu các địa phương khẩn trương bố trí quỹ đất để hình thành các điểm tập kết, tiếp nhận và đưa công nghệ vào xử lý; tạo điều kiện để các đơn vị triển khai xử lý ngay tại địa bàn, giảm chi phí vận chuyển và chấm dứt tình trạng đổ trộm chất thải xây dựng.
Liên quan đến vấn đề “nóng” của Hà Nội đang được dư luận quan tâm này, PV Tạp chí Kinh tế Môi trường đã có cuộc trao đổi chuyên sâu với PGS.TS Lưu Đức Hải - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam, Giám đốc Trung tâm Kinh tế Môi trường - về bài toán rác thải xây dựng dưới góc nhìn kinh tế tuần hoàn.
Nghịch lý “vừa thừa - vừa thiếu”
Hà Nội đang đối mặt với thực trạng hàng triệu tấn phế thải xây dựng quá tải bãi lấp, trong khi các dự án hạ tầng lớn lại thiếu hụt vật liệu san lấp. Dưới góc nhìn kinh tế môi trường, PGS đánh giá như thế nào về sự đứt gãy trong chuỗi giá trị tuần hoàn vật liệu này?
PGS.TS Lưu Đức Hải: Xử lý tái tận dụng chất thải xây dựng (đất, đá, gạch, bê-tông, cát...) là vấn đề thông dụng ở các quốc gia phát triển từ rất lâu, nhưng ở Việt Nam có lẽ là vấn đề chưa được quan tâm thích đáng. Do vậy, trong bối cảnh Hà Nội và các thành phố lớn đang có cuộc điều chỉnh hạ tầng đô thị với số lượng chất thải xây dựng phát sinh quá lớn nên chúng ta chưa có giải pháp phù hợp. Cho nên, một mặt các bãi chứa chất thải xây dựng bị quá tải, trong khi giá trị cần tận dụng của chất thải rắn xây dựng còn lãng phí.

PGS.TS Lưu Đức Hải - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam.
Theo PGS, vì sao công tác quản lý và xử lý chất thải xây dựng (CTXD) thường rơi vào thế “chạy theo sau” tốc độ phát triển hạ tầng và giải phóng mặt bằng của Thủ đô?
PGS.TS Lưu Đức Hải: Như đã nói trên có hai lý do: một là khối lượng CTXD phát sinh trong thời gian ngắn vừa qua là quá lớn do chỉnh trang đô thị; hai là chúng ta chưa thực sự quan tâm tới việc đầu tư các thiết bị và mặt bằng để tái chế CTXD, ví dụ như chưa có thiết bị chuyên dụng quy mô lớn, chưa có thói quen sử dụng sản phẩm CTXD sau tái chế, cũng như cơ chế tài chính cho hoạt động tái chế.
Thử hỏi nếu lấy cát ở sông chứa nhiều vật liệu rắn (thạch anh), khá đồng đều có giá 200.000 đồng/m3; nhưng công nghiền và phân loại gạch đá xây dựng tốn kém hơn và độ cứng thấp hơn thi các nhà đầu tư xử lý tận dụng CTXD có đầu tư không? Chưa kể các chủ dự án có đồng ý không? Đó là bài toán của thực tế!
Công nghệ, hạ tầng và bài toán chi phí
Mặc dù Chỉ thị 18/CT-UBND đã “mở đường” cho việc giao đất ngắn hạn (dưới 5 năm) để làm bãi tập kết và trạm nghiền, nhưng thời hạn này có đủ để doanh nghiệp an tâm đầu tư công nghệ nghiền phân loại hiện đại (vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài) hay không, thưa PGS?
PGS.TS Lưu Đức Hải: Các lý do thực tế có rất nhiều: giá thành sản phẩm có canh tranh được không?; khấu hao thiết bị trong thời gian ngắn có đảm bảo cho nhà đầu tư không?; nguồn vật liệu CTXD có ổn định cho hoạt động sản xuất không?; chưa kể đến những yêu cầu môi trường đối với các cơ sở xử lý tái chế CTXD cũng không được tổ chức quản lý môi trường châm chước và cả vấn đề thuế/phí của hoạt động này nữa.
Việc đưa dây chuyền nghiền di động trực tiếp vào công trường phá dỡ giúp giảm chi phí logistics và giảm áp lực giao thông. Tuy nhiên, với đặc thù không gian chật hẹp và nguy cơ tiếng ồn, bụi mịn tại nội thành Hà Nội, dưới góc độ quy hoạch và kỹ thuật đô thị, chúng ta cần thêm những điều kiện nào để giải pháp này thực sự khả thi, thưa PGS?
PGS.TS Lưu Đức Hải: Tôi thấy trên TV có đưa một số hình ảnh về các trạm nghiền lưu động gạch đá vào công trường xây dựng các tuyến đường, rất là thuận tiện. Tuy nhiên, như bạn nói: đường phố có đủ độ rộng để vận hành các trạm có công suất hiệu quả kinh tế không?, vấn đề ô nhiễm bụi và hơi khí độc tới người đi đường và dân cư sống gần như thế nào?. Có lẽ chỉ ở những nơi đường phố rộng, dân cư thưa và thiết bị hiện đại đắt tiền mới có thể áp dụng được.
Hiện nay, việc cấp phép vận hành trạm nghiền di động ngay tại công trường phá dỡ vẫn gặp vướng mắc do thiếu quy định về mặt bằng tạm và tiêu chuẩn xả thải tại chỗ. Hà Nội cần có cơ chế “luồng xanh” hay quy trình thủ tục rút gọn ra sao để khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư công nghệ này?
PGS.TS Lưu Đức Hải: Tất nhiên, nếu muốn cho phép các trạm nghiền di động được hoạt động trực tiếp trên đường phố đang xây dựng cần có tiêu chuẩn cho hoạt động đó, ví dụ: công suất trạm nghiền, diện tích mặt bằng lắp đặt, tiêu chuẩn môi trường của thiết bị…
Thay đổi nhận thức, vượt rào cản tâm lý
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13946:2024 đã ban hành, nhưng vật liệu tái chế vẫn khó chen chân vào công trình. Thị trường xây dựng và các chủ đầu tư vẫn còn tâm lý e ngại về độ bền, tính an toàn của vật liệu từ chất thải xây dựng tái chế. Theo PGS, chúng ta đang thiếu quy chuẩn kỹ thuật hay thiếu các quy định bắt buộc sử dụng tỷ lệ vật liệu tái chế trong các dự án đầu tư công?
PGS.TS Lưu Đức Hải: Đúng vậy! Như đã nói ở trên, gạch đá nghiền không thể cứng và đều hạt như cát rồi, mưa có thể trôi; nhưng cái quan trọng là thói quen của người quản lý công trình lấy cát, sỏi tự nhiên - sạch và không mang tiếng là chất thải dù chất lượng đáp ứng quy định tiêu chuẩn của công trình. Để sử dụng được vật liệu tái chế từ chất thải bên cạnh các quy định tiêu chuẩn còn cần cả nhận thức của người quản lý công trình nữa.
Để thúc đẩy phân loại tại nguồn, liệu Hà Nội có nên buộc chủ dự án phá dỡ phải trình Kế hoạch quản lý CTXD ngay từ khâu phê duyệt Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hay không, thưa PGS?
PGS.TS Lưu Đức Hải: Tôi chưa thấy có báo cáo ĐTM nào được xây dựng riêng cho việc xử lý tận dụng CTXD (trừ những trạm nghiền CTXD quy mô lớn). Trong các dự án chỉnh trang hay phá dỡ công trình người ta chỉ đề cập 1 câu là CTXD sẽ được xử lý tận dụng làm vật liệu san lấp là đủ rồi. Nhưng xử lý tận dụng như thế nào thường không được trình bày chi tiết.
Cần một quy hoạch vùng Thủ đô mở rộng?
Theo PGS, Hà Nội có nên tự giải quyết toàn bộ CTRXD trong ranh giới hành chính, hay cần một quy hoạch vùng Thủ đô mở rộng để bố trí các khu phức hợp tái chế vật liệu quy mô lớn tại các tỉnh lân cận?
PGS.TS Lưu Đức Hải: Tôi nghĩ Hà Nội hiện nay khá rộng lớn, có rất nhiều vùng có thể quy hoạch để đổ chất thải xây dựng đi kèm với các tổ hợp nghiền và tái chế chất thải xây dựng mà không cần phải đưa sang các địa phương khác. Tuy nhiên, tôi không loại trừ Hà Nội có thể phối hợp với các địa phương khác xây dựng những cái như thế này, nếu tính toán việc làm đó có lợi hơn về kinh tế, môi trường và xã hội.
Để Hà Nội không rơi vào khủng hoảng phế thải xây dựng khi bước vào giai đoạn cao điểm cải tạo chung cư cũ, làm đường sắt đô thị và Vành đai 4, theo PGS, đâu là “nút thắt” mà Thành phố cần ưu tiên tháo gỡ ngay trong giai đoạn này?
PGS.TS Lưu Đức Hải: Hà Nội đang trong giai đoạn cao trào chỉnh trang đô thị như anh nói. Lượng chất thải xây dựng phát sinh cần xử lý tận dụng là rất lớn. Do đó, cần nghiêm túc đánh giá và có kế hoạch xử lý tận dụng CTXD bắt đầu từ ước lượng CTXD phát sinh, xác định quy hoạch các điểm tập kết và nơi xử lý tái chế CTXD; có chính sách ưu đãi để thu hút các nhà đầu tư trong việc mua sắm nhà xưởng, thiết bị máy móc tái chế... Nếu làm được việc này, Hà Nội sẽ không còn tình trạng CTXD gây ô nhiễm và làm xấu bộ mặt Thủ đô, cũng như giảm sức ép tới việc hút cát gây tác động xấu tới các dòng sông lớn của thành phố.
Xin cảm ơn PGS.TS Lưu Đức Hải về cuộc trao đổi này!

