Hạ tầng Việt Nam cần vốn dài hạn và kết nối dữ liệu
Dư nợ tín dụng của Việt Nam tương đương 146% GDP, trong khi nợ công khoảng 35% GDP, đặt ra yêu cầu mở rộng nguồn vốn dài hạn cho phát triển hạ tầng. Cùng với việc giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng, Việt Nam cần kết nối dữ liệu giữa nhà máy, kho bãi, phương tiện vận tải và cảng biển để nâng cao hiệu quả logistics, giảm chi phí và đáp ứng những thay đổi của chuỗi cung ứng quốc tế.
Giảm gánh nặng vốn dài hạn cho ngân hàng
Tại Phiên tham luận và đối thoại chuyên sâu về khung hợp tác trong kỷ nguyên mới, thuộc Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 tổ chức tại Tp.HCM chiều ngày 28/10, ông Denis Depoux - Giám đốc Điều hành toàn cầu Tập đoàn tư vấn quản lý và chiến lược Roland Berger đề cập tình trạng phân bổ vốn mất cân đối trên thị trường quốc tế. Kinh tế thế giới vẫn có nguồn thanh khoản lớn, nhưng dòng tiền đang tập trung vào nợ công của các nước phát triển và những dự án hạ tầng trí tuệ nhân tạo của các tập đoàn công nghệ. Lãi suất vay thương mại từ 8% trở lên đang gây sức ép lên các dự án hạ tầng và sản xuất thực, nhất là những công trình cần vốn lớn và thời gian thu hồi kéo dài.

Các đại biểu quốc tế trao đổi tại phiên thảo luận trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 tại Tp.HCM.
Việt Nam đang có những điều kiện thuận lợi để tiếp nhận dòng vốn đầu tư từ quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng châu Á. Xu hướng đa dạng hóa địa điểm sản xuất, tự động hóa và khu vực hóa đã đưa Việt Nam vào nhóm 15 quốc gia đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới từ năm 2018. Cùng với sự mở rộng hoạt động đầu tư, điện tử và máy móc hiện chiếm gần 60% cơ cấu xuất khẩu, tạo ra nhu cầu ngày càng lớn về vốn lưu động, quản trị rủi ro tỷ giá và cải thiện năng suất.
Ở thị trường tài chính trong nước, tỷ lệ dư nợ tín dụng so với GDP đã lên tới 146%, trong khi nợ công ở mức khoảng 35% GDP. Các con số được ông Denis Depoux dẫn ra để phân tích cơ cấu tài trợ vốn của nền kinh tế, khi hệ thống ngân hàng đang đảm nhận phần lớn nhu cầu tín dụng. Những khoản đầu tư vào cảng biển, giao thông và logistics có thời gian thu hồi dài càng đặt ra yêu cầu về nguồn tài chính phù hợp với đặc điểm của từng dự án.
Từ thực trạng này, chuyên gia Roland Berger khuyến nghị Chính phủ tận dụng dư địa nợ công để huy động vốn dài hạn với chi phí thấp, phục vụ đầu tư hạ tầng. Việc phân bổ lại nguồn tài trợ nhằm giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng trong những khoản vay kéo dài nhiều năm, đồng thời dành thêm dư địa tín dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Phương án này gắn nhu cầu đầu tư hạ tầng với khả năng cân đối nguồn lực tài chính của nền kinh tế.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng được đặt trong yêu cầu mở rộng các kênh huy động vốn ngoài ngân hàng, với mục tiêu phát triển lên quy mô tương đương 20% GDP. Cùng với thị trường trái phiếu, việc nâng hạng tín nhiệm quốc gia được đề nghị trở thành chiến lược trọng điểm nhằm cải thiện điều kiện tiếp cận nguồn vốn quốc tế. Một giải pháp khác là áp dụng mô hình luân chuyển tài sản hạ tầng, khai thác nguồn lực từ những công trình đã đầu tư để tiếp tục phục vụ nhu cầu phát triển.

Ông Denis Depoux - Giám đốc điều hành toàn cầu Roland Berger đề xuất các giải pháp huy động vốn dài hạn cho phát triển hạ tầng Việt Nam.
Trong định hướng phát triển thị trường tài chính, Tp.HCM và Đà Nẵng được chuyên gia Roland Berger đề xuất trở thành các trung tâm tài chính phục vụ chuỗi cung ứng. Hoạt động huy động và phân bổ vốn cần gắn với nhu cầu của doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu và logistics, đồng thời tăng khả năng tiếp cận các nguồn tài chính quốc tế. Hiệu quả ứng phó biến đổi khí hậu cũng được đề cập như một lợi thế cạnh tranh mới trong thu hút dòng vốn bền vững.
Dữ liệu thông suốt từ nhà máy đến cảng biển
Hệ thống nhà máy, khu công nghiệp và cảng biển đã tạo nền tảng cho mô hình tăng trưởng dựa vào sản xuất và thu hút đầu tư của Việt Nam. Hiệu quả vận hành và khả năng phối hợp giữa các mắt xích trong chuỗi cung ứng đang được đặt vào trọng tâm của quá trình phát triển hạ tầng. Ông Devendra Jain - Trưởng nhóm Trí tuệ nhân tạo và Công nghệ tiên phong thuộc Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đề cập việc phát triển hạ tầng thông minh, kết hợp hạ tầng vật lý, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để điều phối hoạt động theo thời gian thực.
Hạ tầng thông minh được phân biệt với hạ tầng số ở khả năng nhận biết, ra quyết định và phản ứng linh hoạt trước những thay đổi của hệ thống. Với mục tiêu tăng trưởng 10-11% mỗi năm của Tp.HCM, một trong hai giải pháp được chuyên gia WEF đưa ra là xây dựng lớp điều phối dữ liệu tin cậy cho hành lang logistics từ nhà máy đến cảng biển. Hệ thống sẽ kết nối thông tin hàng hóa, phương tiện vận tải, kho bãi và lịch tàu, phục vụ việc tổ chức vận chuyển và khai thác hạ tầng.
Ông Devendra Jain nhấn mạnh: “Việc tích hợp dữ liệu thời gian thực về tình trạng hàng hóa, phương tiện vận tải, kho bãi và lịch tàu sẽ giúp tối ưu hóa lộ trình, giảm thiểu thời gian chờ đợi tại cảng. Thay vì buộc từng doanh nghiệp, nhất là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tự đầu tư tốn kém, hệ sinh thái nên cung cấp sẵn các bộ dữ liệu mở, chuẩn kết nối và công cụ AI dùng chung để thúc đẩy sản xuất thông minh”.

Ông Devendra Jain - Trưởng nhóm Trí tuệ nhân tạo và Công nghệ tiên phong thuộc Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đề xuất ứng dụng hạ tầng thông minh nhằm nâng cao hiệu quả logistics.
Giải pháp hạ tầng thông minh dùng chung hướng đến những doanh nghiệp có nguồn lực hạn chế trong đầu tư công nghệ. Các bộ dữ liệu mở, tiêu chuẩn kết nối và công cụ AI có thể được cung cấp trên nền tảng chung để doanh nghiệp ứng dụng vào sản xuất, quản trị và phối hợp với đối tác. Việc sử dụng chung hạ tầng công nghệ được đặt trong mục tiêu giảm chi phí đầu tư riêng lẻ, nâng cao khả năng kết nối giữa các doanh nghiệp và cải thiện hiệu quả hoạt động logistics.
Theo ông Devendra Jain, hạ tầng thông minh phải trở thành năng lực chiến lược quyết định sức hút đầu tư và lợi thế cạnh tranh công nghiệp của Việt Nam. Việc phát triển các nền tảng dùng chung gắn với nhu cầu ứng dụng công nghệ trong sản xuất, vận tải và quản lý chuỗi cung ứng, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận các giải pháp AI cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Chủ động tham gia kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại chương trình, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đề cập ba xu hướng đang tác động đến kinh tế toàn cầu, gồm chuyển đổi số gắn với chuyển đổi xanh, sự dịch chuyển các cực tăng trưởng và quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng đa dạng hóa, nâng cao khả năng chống chịu. Những thay đổi này mở ra cơ hội tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng nhân lực, năng lực hấp thụ công nghệ và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn mới.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh: “Chúng ta không chỉ đến đây để cùng đối thoại, mà quan trọng hơn, chúng ta đến đây để cùng nhau hướng đến tầm nhìn hành động chung. “Tinh thần hợp tác trong kỷ nguyên mới”, chủ đề xuyên suốt của Diễn đàn năm nay, chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành những cam kết, những khuôn khổ chính sách và những dự án hợp tác cụ thể giữa các bên”.
Đối với Việt Nam, Phó Thủ tướng gợi mở bốn hướng hành động gồm phát triển năng lực nội sinh về nhân lực, công nghệ và quản trị; hoàn thiện thể chế ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và tạo không gian thử nghiệm cho những mô hình mới; tăng cường hợp tác đa phương, khu vực và Nam - Nam; huy động hiệu quả vốn, tài chính xanh và công nghệ gắn với liên kết doanh nghiệp trong nước, nâng cấp chuỗi giá trị.
Tp.HCM được đề cập với vai trò kết nối nguồn vốn, tri thức và công nghệ, chuyển các nguồn lực thành những khuôn khổ hợp tác và hoạt động đổi mới sáng tạo. Phó Thủ tướng đề nghị các bên xác định những cam kết cụ thể, xây dựng lộ trình thực thi rõ ràng, hướng đến triển khai các sáng kiến hợp tác.
