Hải Phòng gìn giữ và phát huy giá trị di sản ca trù

Làng Đông Môn (phường Hòa Bình, TP. Hải Phòng) là một trong những cái nôi lâu đời của nghệ thuật ca trù, nơi còn lưu giữ Phủ Tổ nghề. Với giá trị nghệ thuật đặc sắc, năm 2009, ca trù được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, góp phần khẳng định giá trị và thúc đẩy công tác bảo tồn loại hình nghệ thuật truyền thống này.

Ca trù Đông Môn, di sản văn hóa phi vật thể cần được gìn giữ và bảo vệ. Ảnh H.H

Ca trù Đông Môn, di sản văn hóa phi vật thể cần được gìn giữ và bảo vệ. Ảnh H.H

Từ xa xưa, Hải Phòng đã có các giáo phường ca trù hoạt động bài bản với tổ chức chặt chẽ, quy định rõ về cách hành nghề, ứng xử với người thưởng thức và mối quan hệ giữa các giáo phường. Người ngoài giáo phường dù biết hát cũng chỉ được xem là "đào ngang", trong khi những người được đào tạo chính quy mới được gọi là "đào nương".

Theo truyền thống, các giáo phường đều thờ chung một vị Tổ nghề. Tương truyền, đó là Mãn Đường Hoa Công chúa, quê ở Thanh Hóa, người có công sáng tạo và truyền bá nghệ thuật ca trù. Trải qua quá trình phát triển, ca trù không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, trở thành một loại hình nghệ thuật độc đáo với phong cách riêng biệt.

Ca trù xưa có nhiều hình thức biểu diễn phù hợp với từng không gian, như hát cửa đình (hát thờ), hát cửa quyền (hát cung đình), hát tại gia (hát nhà tơ), hát thi và hát ca quán (hát chơi), phản ánh đời sống văn hóa phong phú của người Việt.

Theo các tài liệu nghiên cứu, ca trù xuất hiện từ thời Lý, trong đó làng Lỗ Khê (Hà Nội) được xem là một trong những cái nôi của loại hình nghệ thuật này. Ban đầu, ca trù mang màu sắc nghi lễ, thường được trình diễn trong các lễ hội và hoạt động tế lễ ở đình làng. Về sau, khi sinh hoạt đình làng dần thay đổi, ca trù được đưa vào không gian thính phòng, trở thành thú thưởng thức tao nhã của tầng lớp trí thức, văn nhân và người yêu nghệ thuật.

Ca từ của ca trù là những vần thơ giàu nhạc điệu và chan chứa tình cảm của người yêu cuộc sống, tài hoa. Ảnh HH

Ca từ của ca trù là những vần thơ giàu nhạc điệu và chan chứa tình cảm của người yêu cuộc sống, tài hoa. Ảnh HH

Soạn giả ca trù ngày xưa thường là các văn nhân, thi sĩ hoặc quan viên có tính tình phóng khoáng như Tản Đà, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Hàm Ninh... Đây đều là những tên tuổi nổi danh, gắn với nhiều giai thoại trong lịch sử văn học Việt Nam.

Nội dung ca trù phong phú, ca ngợi tình yêu, vẻ đẹp, nhân phẩm và tài hoa của người phụ nữ. Nhiều bài ca cũng bày tỏ nỗi niềm thế sự, ngợi ca cảnh sắc non xanh nước biếc và tình yêu quê hương, đất nước.

Một màn hát ca trù truyền thống thường có ba người tham gia, gồm người hát, người đệm đàn đáy và người cầm trống chầu. Người hát, còn gọi là "đào hát" hay "đào nương", ngoài vẻ đẹp trời phú còn phải được đào tạo bài bản trong các giáo phường.

Khi biểu diễn, đào nương phải ăn mặc lịch lãm, đoan trang với quần lĩnh, áo đoạn hoa, khăn nhung, tóc đuôi gà. Theo quy định của giáo phường, đào nương chỉ nhìn thẳng khi hát, không đánh mắt hay cợt nhả với quan khách, đồng thời không được tự ý nhận tiền thưởng của người nghe. Họ chinh phục khán giả bằng giọng hát, nghệ thuật nhả chữ, buông lời và kỹ thuật thanh nhạc tinh tế.

Một tài liệu từng mô tả chân dung đào nương thế này:

Mặt tròn như nguyệt, mắt sắc như dao cau

Vào, duyên phong nhã. Ra, duyên hồng lâu

Lời ấy gấm, miệng ấy thêu, dịu như mai, trong như tuyết

Nét phong lưu chi kém bạn Vân Kiều…

Đào nương phải có bản lĩnh trong khi trình diễn nghệ thuật, bởi đối tượng nghe phần đông là các khách thuộc bậc thượng lưu, các quan địa phương ra tỉnh hoặc về Hà Nội công cán, chứ không mấy có thường dân. Cũng vì thế mà có khách nghe cũng phong lưu cầm trống chầu, hòa nhịp theo đào nương và kép đàn.

Vần thơ trong ca trù phong phú. Ảnh HH

Vần thơ trong ca trù phong phú. Ảnh HH

Để có một màn hát hay, đào nương phải khổ công luyện giọng. Khi cất lời, tiếng hát phải tròn vành, rõ chữ, hơi ngân rung đổ hột. Kép đàn cũng phải trải qua quá trình luyện tập công phu không kém. Tiếng đàn đáy phải ngọt, hòa tấu ăn ý với giọng hát nhưng vẫn giữ được sự bay bổng.

Trong dàn nhạc đệm còn có phách và trống chầu. Người cầm chầu không phân biệt giai tầng xã hội, điều quan trọng nhất là phải sành điệu, am hiểu ca trù. Họ phải phân biệt được các khổ trống, làn điệu như Lạc nhạn, Phi nhạn, Thủy châu, Tranh triện hay Hạ mã...

Người cầm chầu không được đánh trống lấn át tiếng hát, bởi trong nghề, đó được coi là "đánh vào miệng ca nương". Khi ngồi vào chiếu cầm chầu, quan viên phải gõ đúng nhịp, đúng phách. Khi thì một tiếng khoan nhặt, khi ba, năm tiếng dập dồn, có lúc chín tiếng rộn ràng.

Đến cao trào, khi tiếng phách, tiếng đàn hòa quyện, quan viên cao hứng, đào nương trổ tài thì đó chính là sự tri âm hội ngộ. Không gian ca trù khi ấy trở nên huyền ảo, chỉ còn lại vẻ tao nhã, thiêng liêng và đậm chất nhân văn.

Một bài ca trù mẫu mực thường gồm ba khổ. Hai khổ đầu, mỗi khổ có bốn câu; khổ thứ ba có ba câu. Nếu bài chỉ có khổ đầu và khổ cuối mà thiếu khổ giữa thì gọi là "thiếu khổ"; ngược lại, bài có nhiều hơn ba khổ được gọi là "dôi khổ".

Số chữ trong mỗi câu ca trù không cố định, song thông thường mỗi câu có từ bảy đến tám chữ. Có trường hợp chỉ ba, bốn chữ, cũng có khi kéo dài tới mười ba, mười bốn chữ. Riêng câu kết bao giờ cũng chỉ có sáu chữ để phù hợp với nhịp phách.

Hệ thống gieo vần trong ca trù cũng rất phong phú, gồm cả vần lưng và vần chân, vần bằng và vần trắc, nhưng phổ biến nhất vẫn là các cặp vần chân liền nhau. Âm hưởng ca trù còn được tạo nên từ sự kết hợp hài hòa giữa thanh bằng và thanh trắc, hình thành giai điệu êm dịu, bổng trầm nhưng vẫn đài các.

Ngoài ra, một số bài ca trù mở đầu bằng vài câu thơ lục bát, gọi là "mưỡu đầu", và kết thúc bằng hai câu lục bát, gọi là "mưỡu hậu".

Trải qua nhiều biến đổi, thăng trầm, đến nay Hải Phòng vẫn duy trì các câu lạc bộ ca trù sinh hoạt thường xuyên. Thành phố nhiều lần tổ chức Liên hoan hát ca trù mở rộng với sự tham gia của các địa phương như Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình...

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc trình diễn những lời cổ, ca trù và hát văn sẽ ngày càng khó lan tỏa trong đời sống đương đại. Vì vậy, cần mở rộng hoạt động sáng tác, tổ chức các cuộc thi để lựa chọn những lời ca mới phản ánh đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước, qua đó thu hút công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, đến gần hơn với hai loại hình nghệ thuật đặc sắc này.

Ca trù và hát văn đều có hệ thống thể thức, luật lệ chặt chẽ, đòi hỏi người sáng tác phải am hiểu văn chương truyền thống, âm nhạc và nghệ thuật diễn xướng. Chính vì vậy, lực lượng tác giả đủ kiến thức và kiên trì theo đuổi lĩnh vực này hiện không nhiều.

Trong bối cảnh đó, các cuộc thi không chỉ là nơi phát hiện những tác phẩm mới mà còn tạo môi trường để người sáng tác học hỏi, rèn luyện, tăng cường kết nối với nghệ nhân, giáo phường và công chúng. Quan trọng hơn, sáng tác lời mới không đối lập với bảo tồn mà chính là một phương thức bảo tồn chủ động.

Từ thành công bước đầu của các cuộc thi, có thể thấy một hướng đi rõ ràng: muốn gìn giữ di sản bền vững, cần song hành giữa bảo tồn những giá trị cốt lõi và khuyến khích sáng tạo có trách nhiệm. Những lời ca mới, nếu được viết bằng sự am hiểu, tôn trọng và đam mê, sẽ trở thành nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại, để ca trù và hát văn tiếp tục ngân vang trong đời sống hôm nay và mai sau.

VĨNH QUÂN

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/van-hoa/hai-phong-gin-giu-va-phat-huy-gia-tri-di-san-ca-tru-245655.html