Hạt gạo Việt khẳng định vị thế kinh tế trên thị trường toàn cầu

Dù diện tích trồng lúa có xu hướng giảm trong những năm gần đây, ngành lúa gạo Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng ổn định về sản lượng, chất lượng và giá trị xuất khẩu. Với sản lượng xuất khẩu đạt từ 8-9 triệu tấn mỗi năm, lúa gạo tiếp tục là một trong những ngành hàng nông sản chủ lực của quốc gia.

Khẳng định vị thế xuất khẩu

Lúa gạo từ lâu đã là ngành sản xuất truyền thống, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, tạo sinh kế cho hàng chục triệu nông dân và đóng góp lớn vào bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, mặc dù diện tích trồng lúa có xu hướng giảm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, song sản lượng và chất lượng lúa gạo Việt Nam vẫn không ngừng được nâng cao, qua đó tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.

Lúa gạo từ lâu đã là ngành sản xuất truyền thống, tạo sinh kế cho hàng chục triệu nông dân Việt Nam.

Lúa gạo từ lâu đã là ngành sản xuất truyền thống, tạo sinh kế cho hàng chục triệu nông dân Việt Nam.

Hiện nay, gạo Việt Nam đã có mặt tại hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, với sản lượng xuất khẩu ổn định từ 8-9 triệu tấn mỗi năm, đưa Việt Nam duy trì vị trí trong nhóm 3 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Đáng chú ý, hơn 90% lượng gạo xuất khẩu là gạo chất lượng cao, đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm quốc tế, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

Gạo Việt Nam đã có mặt tại hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, với sản lượng xuất khẩu ổn định từ 8-9 triệu tấn/ năm.

Gạo Việt Nam đã có mặt tại hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, với sản lượng xuất khẩu ổn định từ 8-9 triệu tấn/ năm.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường - ông Hoàng Trung chia sẻ, trong nhiều năm qua, Việt Nam đã tập trung nghiên cứu và phát triển giống lúa, nâng cao tỷ lệ sử dụng giống xác nhận, đồng thời đẩy mạnh áp dụng các quy trình canh tác bền vững và tiên tiến.

Cùng với đó, lĩnh vực chế biến gạo cũng được đầu tư mạnh mẽ với nhiều công nghệ hiện đại nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và giảm thất thoát sau thu hoạch.

“Thời gian qua, trong sản xuất lúa gạo đã hình thành một số mô hình liên kết theo chuỗi giá trị, góp phần khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, tập trung nguồn nguyên liệu, thu hút doanh nghiệp đầu tư và tăng cường kết nối giữa nông dân với thị trường. Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cũng được thực hiện hiệu quả và bài bản hơn”, Thứ trưởng Hoàng Trung nhấn mạnh.

Để nâng cao chất lượng gạo, công tác nghiên cứu và lai tạo giống lúa được xác định là yếu tố then chốt. Hiện nay, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long đang lưu trữ và bảo tồn hơn 3.500 mẫu giống lúa mùa địa phương, trên 1.500 mẫu giống lúa nhập nội hoặc lai tạo tại địa phương, cùng hơn 100 mẫu giống lúa hoang được thu thập tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Cùng với đó, lĩnh vực chế biến gạo cũng được đầu tư mạnh mẽ với nhiều công nghệ hiện đại.

Cùng với đó, lĩnh vực chế biến gạo cũng được đầu tư mạnh mẽ với nhiều công nghệ hiện đại.

Ông Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long thông tin, mỗi năm viện tiến hành gieo trồng trên 200 giống lúa nhằm trẻ hóa nguồn giống và duy trì khả năng nảy mầm. Các giống lúa được tiếp tục đánh giá, phân loại để lựa chọn những đặc tính ưu việt phục vụ lai tạo các giống mới, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ

Song song với phát triển giống lúa, ngành lúa gạo Việt Nam đang chuyển mạnh từ phương thức sản xuất truyền thống sang ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao năng suất, giảm chi phí và tăng hiệu quả kinh tế. Nhiều thiết bị hiện đại, đặc biệt là thiết bị bay không người lái (drone) đã được đưa vào sử dụng phổ biến trên các cánh đồng lớn.

Drone đã được đưa vào sử dụng phổ biến trên các cánh đồng lớn nhằm giảm sức lao động, tăng năng suất.

Drone đã được đưa vào sử dụng phổ biến trên các cánh đồng lớn nhằm giảm sức lao động, tăng năng suất.

Drone không chỉ hỗ trợ phun thuốc bảo vệ thực vật, bón phân và gieo sạ mà còn có khả năng thu thập dữ liệu về môi trường và chất lượng sản xuất, góp phần tối ưu hóa quy trình canh tác. Hoạt động ứng dụng công nghệ giúp giảm đáng kể chi phí nhân công, tiết kiệm thời gian và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Ông Nguyễn Như Thử, một nông dân tại tỉnh An Giang chia sẻ, việc sử dụng thiết bị bay không người lái đã giúp người dân chủ động hơn trong sản xuất, giảm sức lao động, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế.

Nhờ áp dụng mô hình sản xuất lúa thông minh, chi phí đầu vào được kiểm soát tốt hơn, khiến lợi nhuận của nông dân cũng được cải thiện rõ rệt.

Cùng với nông dân, nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ, góp phần chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Sự thay đổi trên không chỉ tập trung vào tăng sản lượng mà hướng đến nâng cao giá trị gia tăng, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường xuất khẩu.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế, ngành lúa gạo Việt Nam đang từng bước chuyển mình theo hướng hiện đại, bền vững và hiệu quả hơn. Với nền tảng khoa học công nghệ, kết hợp sự tham gia của doanh nghiệp và sự đồng hành của người nông dân, hạt gạo Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là ngành hàng chiến lược, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và nâng cao vị thế nông nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.

CTV PT - Nhựt Chi/VOV.VN

Nguồn VOV: https://vov.vn/kinh-te/hat-gao-viet-khang-dinh-vi-the-kinh-te-tren-thi-truong-toan-cau-post1269663.vov