Hạt gạo Việt nâng giá trị nông sản nhờ công nghệ Nhật Bản xanh
Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở ĐBSCL được xem là 'cách mạng nông nghiệp lần 3', mở ra giá trị xanh.

Ông Lê Đức Thịnh – Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp & Môi trường) - Ảnh: Văn Kim Khanh
Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030” đang được xác định là “Cuộc cách mạng nông nghiệp lần thứ 3” của Việt Nam.
Để làm rõ mục tiêu, kết quả bước đầu cũng như định hướng hợp tác quốc tế, đặc biệt với Nhật Bản, phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với ông Lê Đức Thịnh – Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp & Môi trường).

Quản lý đồng ruộng một cách khoa học - Ảnh: Internet
- Thưa ông, Đề án 1 triệu ha được ví như “Cuộc cách mạng nông nghiệp lần thứ 3”, sau Cách mạng Xanh về giống và Khoán 10. Xin ông làm rõ cốt lõi, điểm khác biệt của cuộc cách mạng lần này và mục tiêu đến năm 2030?
- Ông Lê Đức Thịnh: Cốt lõi của cuộc cách mạng lần thứ ba là tạo ra giá trị kinh tế – xã hội – môi trường đồng thời. Nếu hai cuộc cách mạng trước tập trung chủ yếu vào tăng năng suất và tự chủ sản xuất nhờ đổi mới thể chế, thì lần này hướng tới tính bền vững, tức không chỉ đạt năng suất cao mà còn phải xanh hơn, sạch hơn, ít phát thải hơn và có giá trị gia tăng cao hơn.
Điểm quan trọng là Đề án không chỉ nói về canh tác, mà hướng đến kiến tạo một hệ sinh thái mới: gắn kết chặt chẽ giữa tổ chức nông dân (hợp tác xã) – giảm phát thải – chuyển đổi số – thị trường carbon – và liên kết chuỗi giá trị.
Mục tiêu đến năm 2030 là hình thành vùng sản xuất lúa quy mô lớn, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu thị trường cao cấp, đồng thời góp phần quan trọng vào mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính của quốc gia.
- Sau gần 2 năm triển khai, Đề án đã ghi nhận những kết quả thí điểm đáng chú ý. Ông có thể khái quát những thành tựu nổi bật, đặc biệt về hiệu quả kinh tế và môi trường?
- Ông Lê Đức Thịnh: Kết quả thí điểm tại 11 điểm, với 543,5ha và 355 hộ tham gia, đã cho thấy tính khả thi và tiềm năng rất rõ ràng.
Về hiệu quả kinh tế, năng suất lúa tăng trung bình 5,12 tạ/ha, trong khi chi phí sản xuất giảm đáng kể, dao động từ 1,7 – 4,9 triệu đồng/ha. Giá thành sản xuất giảm từ 326 – 1.052 đồng/kg lúa, giúp tăng trực tiếp thu nhập cho người trồng lúa.
Về môi trường, đây là thành công lớn. Kết quả đo đếm cho thấy lượng phát thải giảm khoảng 3,7 tấn trong mô hình thí điểm. Bên cạnh đó, hiện đã có khoảng 354.800ha áp dụng quy trình canh tác bền vững, giảm phát thải tại 6 tỉnh.
Về tổ chức sản xuất, có 400/620 hợp tác xã trong giai đoạn 1 tham gia Đề án, từng bước hình thành các chuỗi giá trị gạo xanh như Trung An, Tân Long. Đồng thời, chúng tôi đã ban hành tem chứng nhận lúa gạo xanh, tạo nền tảng minh bạch cho thị trường.

Công nghệ Nhật Bản sẽ giúp nâng tầm hạt gạo Việt trê trường Quốc tế - Ảnh: H.K.U
- Nhật Bản được xem là đối tác chiến lược của Việt Nam. Trong Đề án này, đâu là ba trụ cột hợp tác chính với Nhật Bản và vì sao công nghệ Nhật Bản giữ vai trò then chốt?
- Ông Lê Đức Thịnh: Chúng tôi xác định hợp tác với Nhật Bản là một trong những hướng đi quan trọng để đạt mục tiêu xuất khẩu gạo chất lượng cao, bền vững.
Trụ cột thứ nhất là chuyển giao công nghệ toàn diện, từ sản xuất đến chế biến và logistics. Nhật Bản có thế mạnh về công nghệ tưới, phân bón, cơ giới hóa, quản trị rơm rạ và cải tạo sức khỏe đất. Đặc biệt, công nghệ chế biến sâu, bảo quản và logistics lạnh của Nhật Bản là yếu tố then chốt để giảm thất thoát sau thu hoạch, hướng tới mục tiêu chỉ còn 7–8%, đồng thời mở rộng thị trường cao cấp.
Trụ cột thứ hai là tài chính carbon và phát triển thị trường xanh. Chúng tôi học hỏi kinh nghiệm từ cơ chế tín chỉ J-Credit của Nhật Bản. Mục tiêu là đưa tín chỉ carbon từ 1ha lúa áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (AWD) ra thị trường quốc tế, tạo thêm nguồn thu ổn định cho nông dân.
Trụ cột thứ ba là đào tạo và tăng cường năng lực, đặc biệt về nhân lực số và nông nghiệp xanh. Việc đào tạo cán bộ hợp tác xã, nông dân và cán bộ quản lý sẽ tập trung vào kỹ thuật, quản trị số, quản lý chuỗi giá trị và tiêu chuẩn SPS, JGAP/GlobalGAP. Khi con người làm chủ công nghệ, hiệu quả Đề án mới bền vững lâu dài.
- Cuối cùng, ông muốn gửi gắm thông điệp gì về hợp tác Việt Nam – Nhật Bản trong Đề án này?
- Ông Lê Đức Thịnh: Chúng tôi sẵn sàng hợp tác toàn diện để triển khai hai Đề án trọng điểm, gồm chương trình trồng trọt giảm phát thải giai đoạn 2025–2030 và Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở ĐBSCL.
Chúng tôi mong muốn Nhật Bản, với vai trò đối tác chiến lược, sẽ tiếp tục đồng hành hỗ trợ thiết thực về công nghệ tiên tiến, tài chính xanh và đào tạo nhân lực theo chuẩn quốc tế. Mục tiêu chung là xây dựng nền nông nghiệp xanh Việt Nam, tạo ra hạt gạo có giá trị cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.












