Hệ lụy khôn lường từ việc tấn công các mỏ dầu khí trong xung đột Mỹ-Israel với Iran
Việc tấn công vào các mỏ dầu và khí đốt tại Iran, Qatar và các quốc gia khác trong khu vực gây ra những hệ lụy khôn lường, không chỉ đẩy giá năng lượng lên cao, phá hủy nhu cầu, gây ra 'khoản nợ khí hậu', mà còn làm ngăn chặn các biện pháp ngoại giao nhằm hạ nhiệt căng thẳng.

Mỏ khí đốt South Pars ở ngoài khơi Asaluyeh, miền Nam Iran. Ảnh: IRNA/TTXVN
Kênh Al Jazeera của Qatar ngày 19/3 dẫn lời ông Babak Hafezi, Giáo sư kinh doanh quốc tế tại Đại học Mỹ (American University), cho biết cơ sở khí đốt Ras Laffan Industrial City của Qatar - nơi bị Iran tấn công - là một cơ sở khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) then chốt, xử lý khoảng 77 triệu tấn mỗi năm và chiếm 25% thị phần LNG toàn cầu.
“Gián đoạn này sẽ làm giá LNG toàn cầu tăng mạnh, trong đó thị trường châu Âu chịu tác động nặng nề nhất”, Giáo sư Hafezi nói và giải thích rằng Liên minh châu ÂU (EU), bao gồm Đức, đã trở thành bên nhập khẩu ròng LNG kể từ khi Liên bang Nga tiến hành chiến dịch quân sự tại Ukraine và hệ thống đường ống Dòng chảy Phương Bắc (Nord Stream) bị phá hủy.
Giáo sư Hafezi cũng cho biết Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ và nhiều quốc gia khác phụ thuộc vào LNG. Những nước nhỏ hơn, có nền kinh tế yếu hơn ở “Nam bán cầu” sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, vì giá LNG tăng sẽ dẫn đến hiện tượng “hủy nhu cầu” (demand destruction).
Giáo sư Hafezi giải thích rằng có thể xảy ra những thay đổi mang tính hệ thống trong nhu cầu toàn cầu: “Một số hoạt động kinh doanh có thể không còn khả thi về mặt tài chính khi giá tăng cao”, và trong một số ngành, việc chuyển sang nguồn năng lượng “sạch hơn hoặc bẩn hơn” có thể là điều không thể tránh khỏi.
Giáo sư Hafezi nói: “Do tiêu thụ dầu đóng vai trò như một hệ số khuếch đại trong toàn bộ nền kinh tế, nó sẽ đẩy giá cả tăng lên ở mọi công đoạn. Kết quả là, chúng ta nên chuẩn bị cho việc lạm phát toàn cầu gia tăng, thậm chí có thể đẩy nhiều thị trường vào tình trạng đình lạm”.
Giáo sư Hafezi cũng dự báo sẽ có “những biến động mạnh về lạm phát hàng hóa nguyên liệu thô”, bao gồm phân bón, thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm hóa dầu, cũng như tình trạng thiếu hụt, chậm trễ và chi phí gia tăng trên diện rộng.
Tấn công vào các “đối tác đối thoại tiềm năng” và cơ sở năng lượng nhằm phá vỡ con đường ngoại giao
Chuyên gia cao cấp Ross Harrison tại Viện Nghiên cứu Trung Đông cho rằng các hành động gần đây của Israel dường như là một phần của “chương trình nghị sự chính trị” nhằm ngăn chặn “bất kỳ con đường ngoại giao nào” có thể sớm chấm dứt chiến tranh.
Những hành động này bao gồm các cuộc tấn công vào các mỏ dầu khí của Iran và các vụ ám sát có mục tiêu nhằm vào “những nhân vật có thể đóng vai trò đối thoại”, như Thư ký Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao Iran Ali Larijani.
Theo chuyên gia Harrison, “việc tấn công các cơ sở dầu mỏ và giờ là các mỏ khí đốt đã đẩy mức độ leo thang lên một nấc mới” mà theo là đang “đẩy Mỹ vào thế khó”.
“Hiện tại, Mỹ gặp rất nhiều khó khăn trong việc xử lý tất cả các tình huống này, và chúng ta thực sự không biết cuộc chiến sẽ mở rộng theo hướng nào từ đây”, ông Harrison nhận định.
Các cuộc tấn công vào mỏ dầu, khí đốt gây ra “chất ô nhiễm gây hại” ở cả cấp độ địa phương và toàn cầu
Ở một khía cạnh khác, ông Patrick Galey, trưởng bộ phận điều tra của Global Witness, cho rằng các cuộc tấn công vào các mỏ dầu và khí đốt tại Iran, Qatar và các quốc gia khác trong khu vực đang gây ra những tác động môi trường cả ở quy mô địa phương lẫn toàn cầu “ngay trong thời gian thực”.
Theo ông Galey,, các tác động này bao gồm “lượng lớn các chất ô nhiễm cực kỳ nguy hại thải vào khí quyển”, trong đó có khí methane - “một loại khí nhà kính mạnh gấp 80 lần so với carbon dioxide”.
Những tác hại còn bao gồm “ảnh hưởng thảm khốc đến chất lượng không khí địa phương” do “methane và các chất ô nhiễm khác từ khí chưa qua xử lý… trong một khu vực mà mức (methane) và (nitrogen dioxide) vốn đã cao hơn mức an toàn cho sức khỏe”.
Ông Galey nhấn mạnh: “Những tác động này sẽ kéo dài rất lâu, vượt xa bất kỳ thỏa thuận ngừng bắn hay hòa bình lâu dài nào”, đồng thời lưu ý rằng quá trình tái thiết sau chiến tranh sẽ “tạo ra một khoản ‘nợ khí hậu’ bổ sung mà tất cả chúng ta đều phải gánh chịu khi cuộc chiến bom đạn này kết thúc”.
Ông Galey nói: “Bất cứ thứ gì bị phá hủy trong cuộc chiến này đều sẽ cần được xây dựng lại. Và chúng ta sẽ sử dụng nhiên liệu hóa thạch - dầu và khí - để phục vụ quá trình tái thiết”.














