Hệ sinh thái xanh mở đường đón dòng FDI thế hệ mới
Hệ sinh thái công nghiệp xanh, doanh nghiệp cung ứng đủ năng lực và hạ tầng đồng bộ đang trở thành yêu cầu mới để Việt Nam đón dòng FDI thế hệ mới.
Tại Hội thảo “Hệ sinh thái xanh cho công nghiệp hỗ trợ - Nền tảng thu hút FDI thế hệ mới”, trong khuôn khổ Triển lãm Giao thương Quốc tế ngành Chế tạo lần thứ 10 - FBC ASEAN 2026 diễn ra chiều 17/9 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam (VEC), các chuyên gia, cơ quan quản lý và doanh nghiệp cho rằng, lợi thế về đất đai hay ưu đãi đầu tư không còn đủ để thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao.
Thay vào đó, Việt Nam cần hình thành hệ sinh thái sản xuất xanh, có hạ tầng dùng chung, logistics thuận lợi, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đủ năng lực và khả năng kết nối sâu với các tập đoàn đa quốc gia. Đây cũng là hướng tiếp cận được đặt ra trong Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
FDI thế hệ mới cần một hệ sinh thái mới
Phát biểu khai mạc tại hội thảo, ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương cho biết, sau 6 tháng đầu năm 2026, GDP đạt mức tăng 8,78%; 8 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 770 tỷ USD, tăng hơn 28% so với cùng kỳ năm trước.

Ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng ghi nhận nhập siêu khoảng 20 tỷ USD trong 8 tháng. Theo ông Quân, một phần nguyên nhân đến từ đứt gãy chuỗi cung ứng, tác động của xung đột và việc doanh nghiệp gia tăng nhập khẩu thiết bị phục vụ phục hồi, mở rộng sản xuất.
Dù vậy, đại diện Bộ Công Thương đánh giá triển vọng vẫn tích cực khi doanh nghiệp đang có niềm tin vào quá trình cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính và mạnh dạn đầu tư máy móc, thiết bị, nguyên liệu để mở rộng sản xuất.
“Chúng tôi nghĩ rằng một số doanh nghiệp tin tưởng vào các công cuộc cải cách về thể chế mà Chính phủ đã và đang triển khai”, ông Quân nói.
Đối với công nghiệp hỗ trợ, ông Quân cho rằng thách thức lớn hiện nay nằm ở năng lực đầu tư hạ tầng, máy móc, thiết bị và công nghệ của doanh nghiệp trong nước. Bộ Công Thương đang xây dựng, hoàn thiện các chính sách, trong đó có Luật Công nghiệp trọng điểm và sửa đổi, bổ sung Nghị định 111 về phát triển công nghiệp hỗ trợ, nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, hỗ trợ lãi suất và đầu tư công nghệ mới.
Đáng chú ý, theo Nghị quyết 10, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu có 10% khu công nghiệp đạt tiêu chí khu công nghiệp sinh thái. Với khoảng 430 khu công nghiệp trên cả nước, đây là mục tiêu đòi hỏi những mô hình tiên phong và cách làm cụ thể để nhân rộng.
Từ đó, đại diện Bộ Công Thương đề nghị VASI và DTJ Industrial tập trung vào ba nhiệm vụ: Gắn phát triển khu công nghiệp với hệ sinh thái công nghiệp sinh thái; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI; đồng thời đào tạo, nâng cao năng lực và tiêu chuẩn quốc tế để doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đưa ra ý kiến tại hội thảo, bà Trương Thị Chí Bình - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI), yêu cầu đối với FDI đang thay đổi rõ rệt. Từ thực tế đưa doanh nghiệp Việt Nam tham dự Hannover Messe tại Đức, bà Bình cho rằng hình ảnh ngành chế tạo Việt Nam đã có bước tiến đáng kể trong khoảng 10 năm qua.

Bà Trương Thị Chí Bình - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI).
Tuy nhiên, để đón dòng FDI thế hệ mới, Việt Nam không chỉ cần nhà máy xanh hay công nghệ hiện đại mà phải có một hệ sinh thái đủ lớn, bao gồm doanh nghiệp cung ứng, hạ tầng, logistics và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng.
“FDI thế hệ mới họ yêu cầu gì? Gọi là ESG, đấy là điều đương nhiên... Thế nhưng họ yêu cầu những gì đi kèm nữa? Đầu tiên là hệ sinh thái”, bà Bình nhấn mạnh. Theo đó, việc xây dựng hệ sinh thái cung ứng tại chỗ sẽ giúp Việt Nam đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các tập đoàn đa quốc gia, đồng thời mở thêm cơ hội để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu.
Bà cũng dẫn chứng lĩnh vực sản xuất thiết bị bán dẫn đang mở ra cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam khi các tập đoàn có xu hướng đa dạng hóa địa điểm sản xuất. Bên cạnh đó, lĩnh vực drone và UAV cũng được đánh giá có tiềm năng, khi một số khách hàng Bắc Mỹ, châu Âu tìm kiếm địa điểm sản xuất ngoài Trung Quốc và cho rằng Việt Nam có thể trở thành điểm sản xuất phù hợp.
Theo bà Bình, doanh nghiệp Việt Nam cần chuyển từ sản xuất linh kiện đơn lẻ sang cụm linh kiện, OEM, từng bước tiến tới ODM, OBM. Đây không chỉ là nâng cấp sản phẩm mà còn đòi hỏi doanh nghiệp làm chủ tốt hơn chuỗi cung ứng, công nghệ và thị trường.
Quan trọng hơn, năng lực của doanh nghiệp cung ứng trong nước sẽ tác động trực tiếp đến khả năng thu hút và giữ chân FDI.
Xanh hóa hạ tầng để nâng sức hút đầu tư
Từ góc độ chính sách, ông Phạm Thanh Bình - Giám đốc Trung tâm Xúc tiến, Thông tin và Hỗ trợ đầu tư phía Bắc, Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính cho rằng cạnh tranh thu hút FDI giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, trong khi dòng vốn quốc tế đang dịch chuyển theo hướng xanh, thông minh và có giá trị gia tăng cao.
Vì vậy, mục tiêu thu hút FDI không còn đơn thuần là số vốn hay số dự án. Việt Nam cần quan tâm đến hiệu quả đầu tư, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước và nâng vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Ông Phạm Thanh Bình - Giám đốc Trung tâm Xúc tiến, Thông tin và Hỗ trợ đầu tư phía Bắc, Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính.
Ông Bình cho biết, Nghị quyết 10 đặt ra cách tiếp cận mới, từ chú trọng thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển khu vực kinh tế có vốn FDI theo hướng lâu dài, hiệu quả. Các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu được ưu tiên.
Đồng thời, chính sách ưu đãi đầu tư sẽ ngày càng gắn với những đóng góp thực tế của dự án như công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam.
“Quyết định đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia không chỉ phụ thuộc vào các ưu đãi, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng hạ tầng, thể chế, nguồn nhân lực, logistics. Một khu công nghiệp xanh, kết nối chặt chẽ giữa nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, các đối tác R&D và tổ chức tài chính sẽ tạo điều kiện để dòng vốn không chỉ đến mà còn mở rộng sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam”, ông Bình nhấn mạnh.
Từ góc độ phát triển hạ tầng, bà Trần Thị Thu Hiền - Thành viên Ban Hạ tầng VASI, Tổng Giám đốc DTJ Industrial cho rằng khái niệm “xanh” cần được nhìn rộng hơn việc tăng diện tích cây xanh hay sử dụng năng lượng tái tạo.
Một hệ sinh thái xanh cần có năng lượng và nước tuần hoàn, vật liệu tái chế, hoạt động cộng sinh giữa các doanh nghiệp và dữ liệu kết nối để tối ưu vận hành.

Bà Trần Thị Thu Hiền - Thành viên Ban Hạ tầng VASI, Tổng Giám đốc DTJ Industrial.
Bà Hiền dẫn chứng ba mô hình quốc tế tiêu biểu gồm Kalundborg của Đan Mạch với mô hình cộng sinh công nghiệp; đảo Jurong của Singapore với hệ thống hạ tầng dùng chung về năng lượng, nước, logistics và Ulsan của Hàn Quốc với mô hình liên kết giữa chính quyền, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.
Từ những mô hình này, bà cho rằng Việt Nam có thể xây dựng cách tiếp cận phù hợp với điều kiện trong nước, trước hết thông qua các khu, cụm công nghiệp chuyên ngành. Hạ tầng cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, có cơ chế vận hành rõ ràng và tận dụng được các nguồn lực dùng chung để giảm chi phí.
Đối với khu vực phía Bắc, VASI và DTJ Industrial xác định các địa bàn như Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên và Ninh Bình có tiềm năng hình thành những hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ nhờ lợi thế về ngành nghề, hạ tầng giao thông và logistics.
Theo bà Hiền, mô hình cần được triển khai theo hướng chọn địa bàn, ngành nghề thí điểm, xây dựng bộ tiêu chí, dữ liệu kết nối và cơ chế vận hành trước khi nhân rộng. Trong đó, ESG, kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và tài chính xanh cần được tích hợp ngay từ quá trình quy hoạch, phát triển hạ tầng.
Như vậy, thu hút FDI thế hệ mới đang đặt ra yêu cầu cao hơn đối với cả hạ tầng và doanh nghiệp Việt Nam. Không chỉ tạo ra một địa điểm để nhà đầu tư đặt nhà máy, Việt Nam cần hình thành hệ sinh thái có sẵn doanh nghiệp cung ứng, logistics, nguồn nhân lực, công nghệ, tài chính và các hạ tầng xanh.
Khi chuỗi cung ứng nội địa được chuẩn bị trước, doanh nghiệp Việt Nam nâng được năng lực đáp ứng và các khu công nghiệp có khả năng vận hành theo hướng xanh, kết nối, Việt Nam sẽ có thêm nền tảng để thu hút các dự án công nghệ cao, đồng thời tăng khả năng giữ chân và mở rộng hoạt động của các nhà đầu tư hiện hữu.
Hệ sinh thái xanh không chỉ là hạ tầng xanh, mà phải tạo được chuỗi cung ứng sẵn có, kết nối doanh nghiệp Việt Nam với FDI và giúp tối ưu chi phí sản xuất.

