Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh: Yêu nước như một đời sống

Yêu nước không chỉ hiện diện trong những thời khắc đặc biệt, mà âm thầm hình thành qua từng hành động nhỏ, bền bỉ và chân thành của mỗi con người. Bước vào mùa xuân mới, trong cuộc trò chuyện với Hiệp sĩ Đại Thánh giá Gioan Baotixita Lê Đức Thịnh, tinh thần yêu nước trong kỷ nguyên mới hiện lên như một dòng chảy nhân văn, nơi sự tử tế, niềm tin và trách nhiệm với cộng đồng được gìn giữ mỗi ngày, để yêu nước không phải là khẩu hiệu, mà là một đời sống.

Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh giao lưu với các cựu chiến binh ở Quảng Trị.

Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh giao lưu với các cựu chiến binh ở Quảng Trị.

Ông được chọn là đại biểu chính thức dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc 3 kỳ liên tiếp, đó là các đại hội IX, X và XI. Tiếc là Đại hội lần thứ XI vừa rồi ông không tham dự được vì lý do sức khỏe.

Không thể “đi qua” lịch sử như đi qua một con đường

PV: Thưa Hiệp sĩ, những ngày này điều gì khiến ông suy nghĩ nhiều nhất?

Hiệp sĩ Lê Đức Thịnh: Khi sức khỏe không cho phép đi tiếp, người ta buộc phải chậm lại. Và khi chậm lại, tôi thấy rõ hơn những gương mặt đã đi cùng mình suốt mấy chục năm qua. Lúc này tôi nghĩ nhiều đến hai chữ “tri ân”. Vì càng lớn tuổi, càng đi nhiều, càng thấy đời mình mắc nợ: nợ những người đã nằm lại để mình được sống, nợ những vùng đất đã gánh bom đạn để hôm nay có tiếng trẻ thơ cười, và nợ cả những con người lặng lẽ làm điều tốt mà chưa từng coi mình là “điển hình”. Có lẽ vì vậy, mỗi lần nhắc đến thi đua yêu nước, tôi lại nhớ Quảng Trị.

Tôi từng về vùng “đất lửa”, đứng trong dòng người chầm chậm dâng hương, nhìn những hàng mộ dài của các Anh hùng liệt sĩ và nghĩ đến những gia đình đã chờ đợi suốt một đời. Quảng Trị là nơi giúp tôi hiểu rất rõ: hòa bình không chỉ là vắng tiếng súng; hòa bình còn là cách người ta đối xử với nhau như thế nào, có thương nhau không, có còn biết tri ân không. Và khi nghe những cựu chiến binh nói về sự hy sinh bằng giọng bình thản đến nhói lòng, tôi thấy mình không được phép sống hời hợt. Tôi tự nhủ: mình không thể “đi qua” lịch sử như đi qua một con đường. Trong những chuyến tri ân, có bác cựu chiến binh cầm phần quà mà tay run, rồi nhìn tôi rất lâu. Bác không nói nhiều. Nhưng sự im lặng ấy làm tôi hiểu: đôi khi người ta không cần lời. Người ta chỉ cần cảm giác rằng mình không bị lãng quên. Cảm giác ấy quý hơn mọi món quà. Trong Kinh Thánh có câu “Phúc cho ai xây dựng hòa bình”, và tôi hiểu hòa bình cũng cần được “xây” hằng ngày bằng sự tử tế, bằng sự chăm sóc, bằng sự không lãng quên.

Hiệp sĩ Đại thánh giá Lê Đức Thịnh, Hiệp sĩ Đại thánh giá Phu nhân Nguyễn Thị Kim Yến thăm hỏi người già neo đơn được các sơ thuộc Dòng Đức mẹ Bùi Chu (Đồng Nai) chăm sóc.

Hiệp sĩ Đại thánh giá Lê Đức Thịnh, Hiệp sĩ Đại thánh giá Phu nhân Nguyễn Thị Kim Yến thăm hỏi người già neo đơn được các sơ thuộc Dòng Đức mẹ Bùi Chu (Đồng Nai) chăm sóc.

Tôi cũng nhớ Tây Nguyên. Nhớ cái nắng và bụi đỏ, nhớ những con đường mùa mưa trơn trượt. Và nhớ các sơ Dòng Ảnh Phép lạ ở Quảng Ngãi (Kon Tum cũ) - những người phụ nữ nhỏ bé làm những việc lớn lao mà không cần ai vinh danh. Tôi đến thăm các sơ và các cháu nhỏ mồ côi ở Nhà nội trú Kon Rơ Bang, những em học sinh dân tộc thiểu số sống xa nhà để được đi học. Các sơ lo bữa cơm, lo sách vở, lo cả những cơn sốt giữa đêm cho những đứa trẻ. Ở nơi như thế, người ta mới hiểu: có những “thi đua yêu nước” lặng lẽ nhưng bền bỉ, không có sân khấu, chỉ có một đời sống tận hiến.

Chính vì vậy, khi nhắc đến thi đua yêu nước là chúng ta suy ngẫm về những ngày đời thường, nơi người ta âm thầm làm việc tốt và kiên nhẫn làm việc đúng. Nếu điều tốt đủ bền, nó sẽ tự tìm được đường đi để lan tỏa.

Điều đẹp nhất của thi đua yêu nước là giúp người khác tự đứng vững

Ông thường nói, thi đua yêu nước là một đời sống, không phải một thời điểm, càng không phải là khẩu hiệu. Vậy, với một người Công giáo, thi đua yêu nước bắt đầu từ đâu?

Tôi nghĩ bắt đầu từ một điều rất đơn giản: mình sống cạnh ai và mình có thương họ không. Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo. Tuổi thơ nhiều thiếu thốn, lo toan. Tôi từng hiểu cái cảm giác thua thiệt của một đứa trẻ nghèo và cảm giác “không dám mơ” - vì mơ cũng thấy xa xỉ. Nhưng chính những năm tháng ấy dạy tôi một điều: người nghèo đôi khi không cần ai thương hại, người nghèo cần ai đó tôn trọng họ và cho họ một cơ hội. Đức tin giữ tôi lại ở chỗ tử tế. Tôi gọi đó là “kỷ luật tử tế”. Vì tử tế không phải lúc nào cũng dễ. Có những ngày mình mệt, mình khó chịu, mình muốn bỏ qua, muốn im lặng. Nhưng đức tin nhắc nhở tôi rằng: nếu tin vào tình yêu, mình phải sống như một phần của tình yêu ấy, không chỉ trong nhà thờ, mà ngoài cuộc đời. Và yêu nước, với tôi, là việc mình không làm hại cộng đồng, và nếu có điều kiện thì nâng cộng đồng lên một chút.

Có lúc người ta hỏi tôi: “Làm sao để thi đua yêu nước mà không thành khẩu hiệu?” Tôi nghĩ: hãy làm cho nó có “mặt người”. Nghĩa là mỗi lần nói về yêu nước, hãy nhớ đến một gương mặt cụ thể: một bác thương binh; một người già neo đơn được chăm sóc trong một nhà dòng; một người mẹ nghèo đang cố giữ con khỏi bỏ học. Khi có “mặt người”, mình không nói quá được. Mình cũng không dám hời hợt.

Đồng hành với Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh trên hành trình thiện nguyện có ông Dương Công Thuyên, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Việt Phú An; ông Đặng Văn Thanh, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Việt Phú An; ông Nguyễn Văn Cường, Giám đốc Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội; ông Trần Thiện, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Cảng Quốc tế Long Sơn; ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Giám đốc Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội; ông Trần Đình Bình, thành viên Hội đồng quản trị Bệnh viện đa khoa quốc tế Nam Sài Gòn... Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh chia sẻ rằng, trong mấy chục năm qua, bên cạnh ông luôn có những người bạn đồng hành, có người đồng hành từ những ngày đầu còn nhiều thiếu thốn, có người gặp giữa đường, rồi cùng ở lại vì chung một cách nghĩ, một cách sống. “Không phải ai cũng gọi tên việc mình làm là “thi đua yêu nước”, nhưng chính họ đã làm nên tinh thần thi đua bằng đời sống của mình. Tôi học được từ họ một điều rất quý: điều tốt chỉ thật sự có ý nghĩa khi nó không làm người khác thấy mình đơn độc. Có người góp công, có người góp của, có người góp thời gian, có người chỉ góp một lời động viên đúng lúc. Nhưng khi đặt cạnh nhau, những điều nhỏ ấy trở thành một dòng chảy. Và chính dòng chảy đó giúp tôi tin rằng, nếu mình còn giữ được sự tử tế, còn có người sẵn sàng đi cùng, thì hành trình này vẫn đáng để tiếp tục, dù chậm, dù mệt, nhưng không bao giờ lạc hướng” - Hiệp sĩ Lê Đức Thịnh khẳng định.

Ở tỉnh Quảng Ngãi (Kon Tum cũ), tôi nhớ ông A Ngun (người dân tộc Xơ Đăng – nhánh Hà Lăng) ở làng Đăk Đe, xã Rờ Kơi. Trước đây ông trồng bời lời, vài năm mới thu hoạch một lần, giá thấp, mỗi mùa chỉ được vài triệu đồng, cuộc sống cứ quẩn quanh trong túng thiếu. Năm 2023, gia đình ông phá bỏ bời lời, tham gia Đề án cải tạo vườn tạp của chính quyền và được hỗ trợ 65 cây sầu riêng từ tôi và các bạn đồng hành. Cán bộ xã thường xuyên đến hướng dẫn kỹ thuật, nên sau hơn một năm, vườn cây phát triển rất tốt. Tôi đứng nhìn vườn cây non trổ lá, thấy trong mắt người đàn ông ấy có một thứ sáng lên: không phải “niềm vui được cho”, mà là niềm vui được tin rằng mình làm được. Tôi nghĩ đó mới là điều đẹp nhất của thi đua yêu nước: giúp người khác tự đứng vững. Khi đồng bào ấm no, mình cũng hạnh phúc - hạnh phúc không phải vì mình “làm được việc”, mà vì đất nước bớt đi một phần nhọc nhằn.

Với đồng bào Công giáo, tôi nghĩ điều quan trọng là sống đạo không tách khỏi đời. Người Công giáo yêu nước không cần chứng minh bằng lời. Chỉ cần mình sống sao để hàng xóm tin mình, chính quyền tin mình, cộng đồng tin mình - bằng sự thật thà, bằng tinh thần trách nhiệm, bằng những việc thiện không phân biệt. Không cần ai chứng nhận, chính đời sống sẽ là chứng chỉ. Khi mình làm được điều đó, mình đang góp một viên gạch vào khối đại đoàn kết.

Tôi đã đi nhiều, gặp nhiều, và càng gặp nhiều tôi càng tin: điều giữ đất nước này lại với nhau là những con người biết thương nhau, biết nhường nhau, biết đặt lợi ích chung lên trước. Hãy tôn vinh điều giản dị mà đẹp đẽ ấy. Còn tôi, chỉ mong đủ sức để tiếp tục “đi” theo cách phù hợp với sức khỏe. Có thể không đi xa, nhưng vẫn có thể đồng hành. Có thể không làm điều lớn, nhưng vẫn làm điều cần. Đời người không dài. Mình còn làm được gì, thì cứ làm, lặng lẽ thôi, nhưng đừng ngừng.

Cây cầu bền nhất không làm bằng bê tông mà làm bằng lòng tin

Hơn 40 năm qua, ông được nhắc đến như một người “bắc cầu” giữa đạo và đời, giữa Giáo hội và xã hội. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về những “cây cầu” ấy?

Bắc cầu là công việc dễ mệt, vì người đứng giữa thường không được ai cho mình là “đúng hẳn”. Nhưng tôi chọn đứng giữa, vì tôi sợ nhất là “tường”-tường làm người ta xa nhau, tường làm người ta nghi kỵ nhau, tường làm điều tốt khó đi đến nơi cần. Tôi bắc cầu bằng cách rất bình thường: gặp gỡ, lắng nghe, rồi cùng làm những việc thiết thực. Khi cùng cúi xuống vì người nghèo, khoảng cách tự nhiên nhỏ lại. Khi cùng lo cho một đứa trẻ được đi học, người ta bớt nghi ngờ nhau. Không phải vì ai “thắng” ai, mà vì mục tiêu chung đã kéo người ta lại gần.

Tôi nhớ những lần đến Quảng Ngãi (Kon Tum cũ), đến với các sơ Dòng Ảnh Phép lạ. Trong nhiều chuyến đi có cả sự tham dự của lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Những chuyến thăm như vậy có ý nghĩa hơn nhiều điều: nó cho thấy sự tôn trọng có thể trở thành nhịp cầu. Mình đến không phải để “kiểm tra”, không phải để “làm hình ảnh”, mà để hiểu. Hiểu nhau rồi, người ta nhẹ lòng hơn, hợp tác dễ hơn.

Tôi cũng học được rằng, bắc cầu không chỉ giữa “đạo và đời”, mà còn giữa “người trao và người nhận”. Bắc cầu, nói cho cùng, là làm sao để người ta nhìn nhau bằng đôi mắt mềm hơn. Với đôi mắt mềm, lòng người sẽ bớt cứng. Vì cây cầu bền nhất không làm bằng bê tông mà làm bằng lòng tin.

Yêu thương thật lòng đời sống sẽ trả cho mình thêm những yêu thương

Trong rất nhiều chuyến đi, có câu chuyện nào khiến ông nhớ mãi, như những “dấu lặng” trong hành trình của mình?

Có những dấu lặng không nằm ở nơi đông người, mà nằm ở một ánh mắt, một câu nói hay một cái nắm tay. Tôi nhớ câu chuyện về người cựu chiến binh già ngồi lặng bên hành lang trong một đợt trao quà ở Gia Lai (Bình Định cũ): ông Huỳnh Xuân Thành, 80 tuổi, thương binh hạng 3/4, từng bị giam ở nhà tù Phú Quốc suốt 7 năm. Ông kể bị giật điện, cùm chân, bỏ đói… nhưng người lính “chưa bao giờ gục ngã”, vì hy sinh là để có hòa bình; và khi nhận món quà từ một người Công giáo, ông thấy ấm lòng, càng trân quý cái giá của hòa bình. Tôi nghe mà nghẹn. Không phải vì câu chuyện bi thương, mà vì cái cách ông đối diện với mọi sự rất bình thản. Sự bình thản ấy giống như một lời nhắc: sự hy sinh của thế hệ đi trước khiến chúng ta không thể sống hời hợt.

Khi chúng tôi đến thăm và trao quà Tết cho các sơ và người già neo đơn ở Dòng Đức mẹ thăm viếng Bùi Chu (Đồng Nai), tôi nhớ có cụ chỉ nắm tay tôi mà không nói. Nắm rất lâu. Một cái nắm tay như vậy làm mình tự hỏi: mình đã sống đủ sâu chưa, đủ biết thương chưa? Và tôi xúc động khi thấy người ta vẫn còn tin. Người nghèo nhiều khi nghèo nhất không phải vì thiếu tiền, mà vì thiếu niềm tin rằng đời họ có thể khá hơn. Khi trao một công trình, một phần quà, một học bổng, tôi chỉ mong người nhận giữ lại được niềm tin ấy. Vì niềm tin là thứ khiến người ta không buông.

Và còn một dấu lặng riêng của tôi: “nhà đông con”. Tôi có mười mấy đứa con nuôi.

Tôi nuôi chúng từ bé, cho đi học, dựng vợ gả chồng, có đứa làm bác sĩ, có đứa là linh mục. Chúng gọi tôi là “ba”. Ngày nào cũng nhắn tin, nhắc tôi giữ sức khỏe, mặc áo đủ ấm…đó là niềm hạnh phúc không dễ gì nói hết. Tôi coi đó là một ân huệ của cuộc đời. Vì yêu thương, nếu thật lòng, đời sống sẽ trả cho mình thêm những yêu thương.

Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Hoàng Công Thủy tiếp nhận số tiền 800 triệu đồng hỗ trợ đồng bào bị bão lũ từ Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh và các bạn đồng hành.

Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Hoàng Công Thủy tiếp nhận số tiền 800 triệu đồng hỗ trợ đồng bào bị bão lũ từ Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh và các bạn đồng hành.

Đức tin, tình yêu đất nước và sự tử tế

Nhìn lại chặng đường đã qua, từ những ngày tháng gian khổ của tuổi thơ đến hành trình dấn thân hôm nay, điều gì đã giúp ông đi xa như vậy?

Tôi nghĩ nhờ ba điều: đức tin, tình yêu đất nước và sự tử tế. Tuổi thơ khó nhọc khiến tôi hiểu giá trị của lao động. Đi làm thuê từ sớm khiến tôi hiểu rằng đồng tiền kiếm được bằng mồ hôi luôn dạy con người biết khiêm nhường. Nhưng nếu chỉ có lao động thôi, chưa chắc người ta đã đi xa; người ta còn cần một điểm tựa tinh thần để không gãy đổ khi gặp biến cố. Đức tin cho tôi điểm tựa đó. Đức tin không làm tôi thành người “đặc biệt”, mà giữ tôi ở chỗ biết sợ điều xấu trong lòng mình, và biết xấu hổ nếu mình vô cảm. Tình yêu đất nước, với tôi, không phải thứ tôi “học” trong một bài giảng. Nó đến từ việc mình được sống, được nâng đỡ, được cưu mang.

Tôi luôn nhớ lời nhắc về “ba người Mẹ”: Mẹ sinh thành, Mẹ Tổ quốc Việt Nam, và Mẹ Giáo hội. Khi coi Tổ quốc là Mẹ, không ai còn toan tính. Còn sự tử tế, tôi hay gọi là “kỷ luật tử tế”, vì nó cần rèn. Tử tế không đến từ cảm hứng nhất thời mà đến từ việc mỗi ngày mình cố gắng làm một điều đúng, dù nhỏ. Có khi là một chuyến đi trao quà. Có khi là một cuộc gặp để tháo gỡ hiểu lầm. Có khi là lặng lẽ đứng cạnh một người đau khổ và nghe họ nói hết. Và tôi tin: nếu mình tử tế đủ lâu, mình sẽ tự nhiên muốn làm thêm điều tốt - không phải để được ghi nhận, mà vì lòng mình không chịu nổi nếu không làm.

Nhìn lại hành trình đã qua, tôi cũng chưa từng đếm mình đã làm được bao nhiêu việc. Vì nếu cứ ngồi đếm, tôi sợ sẽ quên mất vì sao mình bắt đầu. Một người thì nhỏ bé, làm được chẳng bao nhiêu. Nhưng khi có nhiều người cùng làm điều tốt, điều tốt ấy sẽ có sức mạnh. Thi đua yêu nước, theo cách tôi hiểu, không phải là ai làm nhiều hơn ai, mà là làm sao để việc tốt không dừng lại ở mình, mà được tiếp nối, được trao tay, được nhân lên.

Tước phẩm Hiệp sĩ có từ năm 1831, thể hiện sự tri ân của Giáo hoàng đối với giáo dân có công lớn trong giáo hội và xã hội. Hiệp sĩ Đại thánh giá là một trong những cấp bậc cao. Ông Lê Đức Thịnh và vợ là bà Nguyễn Thị Kim Yến được Giáo hoàng Benedict 16 ban tước phẩm Hiệp sĩ Đại thánh giá và Hiệp sĩ Đại thánh giá Phu nhân vào ngày 12/6/2007. Kể từ năm 1831 cho đến nay, trên thế giới có 13 Hiệp sĩ Đại thánh giá, trong đó ông Lê Đức Thịnh là người châu Á đầu tiên được Giáo hoàng phong tước phẩm. Bà Nguyễn Thị Kim Yến cũng là người phụ nữ đầu tiên được Giáo hoàng phong tước phẩm Hiệp sĩ Đại Thánh giá.

Đất nước đang bước vào một mùa xuân mới - một chặng đường phát triển mới, trong kỷ nguyên mới với nhiều kỳ vọng. Ông suy nghĩ thế nào về tinh thần yêu nước trong giai đoạn này?

Tôi nghĩ yêu nước trong kỷ nguyên mới không phải là điều gì cao siêu. Nó bắt đầu từ cách mình sống mỗi ngày, từ việc mình đối xử với người bên cạnh ra sao. Đất nước không chỉ đi lên bằng những bước nhảy lớn, mà còn bằng những bước đi bền bỉ của những con người biết sống tử tế, biết gắn bó với cộng đồng và biết đặt niềm tin vào điều tốt, ngay cả khi cuộc sống còn nhiều khó khăn. Tôi tâm đắc với phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI rằng, “thi đua không chỉ là động lực phát triển, mà còn là một dòng chảy nhân văn, nuôi dưỡng niềm tin, nhân lên tình thương và làm cho cuộc sống không chỉ đủ đầy hơn mà còn ấm áp hơn, đẹp hơn trong tâm hồn và trong cách con người đối xử với nhau”. Khi tinh thần ấy thấm sâu vào đời sống hàng ngày, thi đua sẽ không còn là phong trào, mà trở thành một phần tự nhiên trong cách chúng ta sống để cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trân trọng cảm ơn ông!

Dạ Yến

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/hiep-si-dai-thanh-gia-le-duc-thinh-yeu-nuoc-nhu-mot-doi-song.html