Hồ sơ số 41/2026: Hơn nửa thế kỷ đau đáu tìm nơi an nghỉ của liệt sĩ Bùi Văn Hoạt và đồng đội
Hơn 55 năm đã trôi qua, người lính trẻ Bùi Xuân Hoạt vẫn chưa trở về. Nhưng tại quê nhà, ngọn khói hương dành cho ông chưa bao giờ tắt. Cha mẹ đã đi xa, người em trai đã già, còn những người cháu vẫn tiếp tục cuộc kiếm tìm với niềm tin bền bỉ: từ danh sách đồng đội và ô tọa độ còn lưu lại, sẽ có ngày gia đình xác định được nơi ông yên nghỉ, đón ông trở về trong vòng tay quê hương, dòng họ.

Hơn 55 năm đã trôi qua kể từ ngày liệt sĩ Bùi Văn Hoạt, còn có tên là Bùi Xuân Hoạt, hy sinh tại chiến trường Gia Lai. Cha mẹ ông đã lần lượt qua đời mà chưa thể đón con trở về. Từ danh sách 13 liệt sĩ được cho là cùng đơn vị, cùng an táng ban đầu tại ô tọa độ (14–82)06, gia đình đang có thêm những manh mối quan trọng, tha thiết đề nghị Dự án “Sáng kiến Tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” hỗ trợ tra cứu, xác minh.
1- Người lính trẻ nằm lại chiến trường Gia Lai
Ngày 18/7/2026, anh Bùi Bảo Quốc, sinh năm 1988, hiện sinh sống tại khu nhà ở Thuận Lợi 2, phường Hòa Lợi, TP. Hồ Chí Minh, đã gửi đơn đến Dự án “Sáng kiến Tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” (TTU–VWAI), đề nghị hỗ trợ tìm kiếm thông tin và phần mộ người bác ruột là liệt sĩ Bùi Xuân Hoạt.
Theo giấy tờ gia đình hiện còn lưu giữ, liệt sĩ Bùi Văn Hoạt, một số nguồn thông tin, trong đó có danh sách đơn vị còn được ghi là Bùi Xuân Hoạt, sinh năm 1951, quê xã Mậu Lâm, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa; là con của cụ Bùi Văn Tất và cụ Quách Thị Xin.
Tháng 12/1969, khi vừa tròn 18 tuổi, chàng trai Bùi Văn Hoạt lên đường nhập ngũ. Như biết bao thanh niên cùng thế hệ, ông rời quê hương, tạm biệt cha mẹ và những người thân yêu để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.

Thông tin trong hồ sơ ghi ông có cấp bậc Binh nhất, chức vụ chiến sĩ, thuộc C1, D4, E24A. Sau thời gian huấn luyện và hành quân vào chiến trường, ông tham gia chiến đấu tại địa bàn Gia Lai.
Hiện nay, các nguồn tư liệu của gia đình còn có điểm chưa thống nhất về ngày hy sinh. Đơn đề nghị ghi liệt sĩ hy sinh ngày 6/4/1971, trong trường hợp chiến đấu phục kích; trong khi danh sách 13 liệt sĩ mới được cung cấp lại ghi ngày hy sinh của Bùi Xuân Hoạt là 4/6/1971. Đây là chi tiết quan trọng cần tiếp tục đối chiếu với giấy báo tử, hồ sơ quân nhân, danh sách liệt sĩ của đơn vị và tài liệu tác chiến cùng thời kỳ.
Dù hy sinh ngày 6/4 hay 4/6/1971, người lính Bùi Xuân Hoạt khi ấy mới tròn 20 tuổi. Tuổi thanh xuân của ông đã vĩnh viễn gửi lại nơi chiến trường Tây Nguyên.
2- Manh mối từ danh sách 13 liệt sĩ tại tọa độ (14–82)06
Cùng với đơn đề nghị của gia đình, một danh sách gồm 13 liệt sĩ có liên quan đến E24 và khu vực an táng ban đầu tại Gia Lai đã được cung cấp. Trong đó, phần lớn các liệt sĩ thuộc C1, C2, D4, E24 hoặc các đơn vị có ký hiệu gần tương ứng; hy sinh chủ yếu trong khoảng từ ngày 30/5 đến ngày 7/6/1971.
Danh sách gồm:
1.Hoàng Văn Tiến, sinh năm 1952; quê Tràng Sơn, Vạn Quan; đơn vị C1, K2, E28; cấp bậc Hạ sĩ, chức vụ A phó; hy sinh ngày 4/6/1970.
2.Triệu Văn Quan, sinh năm 1944; quê Bảo Linh, Định Hóa; đơn vị C1, K4, E24; cấp bậc Trung sĩ, chức vụ B phó; hy sinh ngày 7/6/1971.
3.Nguyễn Trọng Chỉ, sinh năm 1949; quê Xuân Hòa, Bạch Thông; đơn vị C2, K2, E24; cấp bậc Trung sĩ, chức vụ A trưởng; hy sinh ngày 30/5/1971.
4.Lê Duy Thuyết, sinh năm 1948; quê Giao An, Xuân Thủy; đơn vị C1, D4, E24; cấp bậc Hạ sĩ, chức vụ A phó; hy sinh ngày 4/6/1971.
5.Đặng Quang Đạt, sinh năm 1948; quê Nam Sơn, Hưng Nhân, Thái Bình; đơn vị C1, D4, E24; cấp bậc Trung sĩ, chức vụ A phó; hy sinh ngày 4/6/1971.
6.Bùi Xuân Hoạt (còn được gia đình nhắc đến với tên Bùi Văn Hoạt), sinh năm 1951; quê Mậu Lâm, Như Xuân, Thanh Hóa; nhập ngũ tháng 12/1969; đơn vị C1, K4, E24; cấp bậc Binh nhất, chức vụ chiến sĩ; hy sinh ngày 4/6/1971 theo danh sách; trường hợp hy sinh ghi “chiến đấu, bị phục kích”.
7.Hoàng Văn Đô, sinh năm 1948; quê Văn Thụ, Bình Gia; đơn vị C1, K4, E24; cấp bậc Trung sĩ, chức vụ A trưởng; hy sinh ngày 4/6/1971.

8.Hoàng Văn Tiến, sinh năm 1953; quê Nữ Xá, Tràng Định; đơn vị C1, D4, E24; cấp bậc Hạ sĩ, chức vụ chiến sĩ; hy sinh ngày 4/6/1971; trường hợp hy sinh ghi “địch phục kích”.
9.Đỗ Thanh Huyền, sinh năm 1951; quê Tân Phương, Thanh Thủy, Vĩnh Phú; đơn vị C2, K4, E24; cấp bậc Binh nhất, chức vụ chiến sĩ; hy sinh ngày 6/6/1971.
10.Đỗ Văn Ngà, sinh năm 1952; quê Đỗ Xuyên, Thanh Ba, Vĩnh Phú; đơn vị C2, K4, E24; cấp bậc Binh nhất, chức vụ chiến sĩ; hy sinh ngày 7/6/1971.
11.Nguyễn Đình Ân, sinh năm 1948; quê Hồng Sơn, Thạch Sơn, Lâm Thao, Vĩnh Phú; đơn vị C1, D4, E24; cấp bậc Binh nhất, chức vụ chiến sĩ; hy sinh ngày 4/6/1971.
12.Đỗ Văn Ân, sinh năm 1948; quê Việt Cường, Trấn Yên, Yên Bái; đơn vị C1, K4, E24; cấp bậc Binh nhất, chức vụ chiến sĩ; hy sinh ngày 4/6/1971.
13.Bùi Xuân Ước, sinh năm 1948; quê Đông Yên, Quốc Oai, Hà Tây; đơn vị C2, D4, E24A bộ binh; cấp bậc Thượng sĩ, chức vụ Trung đội phó; hy sinh ngày 7/6/1971.
Danh sách trên là một manh mối rất đáng chú ý, nhưng chưa đủ căn cứ để khẳng định cả 13 liệt sĩ đều thuộc cùng một tiểu đội. Tư liệu thể hiện họ thuộc nhiều đại đội, tiểu đoàn hoặc phiên hiệu khác nhau. Tuy nhiên, việc nhiều người cùng thuộc E24, hy sinh trong một khoảng thời gian gần nhau và có chung thông tin về khu vực an táng ban đầu cho thấy cần nghiên cứu các trận đánh diễn ra tại địa bàn này vào cuối tháng 5 và đầu tháng 6/1971.
Việc kết nối thân nhân của 13 liệt sĩ cùng đơn vị, cũng có ý nghĩa đặc biệt. Những gia đình có thể đang lưu giữ giấy báo tử, sơ đồ mộ chí, thư từ, thông tin đồng đội hoặc kết quả những lần tìm kiếm trước đây. Khi các nguồn tư liệu riêng lẻ được tập hợp và đối chiếu, chúng có thể bổ sung cho nhau, giúp xác định rõ hơn địa điểm hy sinh, nơi chôn cất ban đầu và quá trình quy tập sau chiến tranh.
3- Từ ô tọa độ quân sự đến khu vực nghi vấn trên thực địa
Tài liệu ghi nơi an táng ban đầu của liệt sĩ Bùi Xuân Hoạt là tọa độ (14–82)06, làng Quái, mảnh bản đồ K5 Gia Lai, tỷ lệ 1/50.000. Trong danh sách 13 liệt sĩ, địa điểm này được ghi theo một số cách khác nhau như “(14–82)06 K5 Gia Lai 1/50.000”, “(14–82)06 khu 5 Gia Lai” hoặc “(14–82)06 làng Quái K5 Gia Lai 1/50.000”.
Theo hình ảnh chồng ghép tọa độ với bản đồ hiện nay do gia đình cung cấp, ô số 06 được đặt tại khu vực gần Ia Blang, phía tây đường Quang Trung. Trên hình còn hiển thị cặp trị số X: 1534143; Y: 182362. Tuy nhiên, đây mới là kết quả xác định sơ bộ, chưa thể coi là tọa độ GPS chính thức hoặc vị trí phần mộ đã được xác minh.
Muốn xác định chính xác vị trí trên thực địa, cần tìm đúng tờ bản đồ quân sự mang ký hiệu K5 Gia Lai, tỷ lệ 1/50.000, xác định hệ lưới tọa độ được sử dụng, rồi đối chiếu với bản đồ địa hình hiện nay. Việc quy đổi cần được thực hiện bởi người có chuyên môn về bản đồ quân sự nhằm tránh sai số do khác biệt hệ quy chiếu, ký hiệu ô vuông và cách ghi tọa độ rút gọn.
Đặc biệt, tên địa danh “làng Quái” trong tư liệu cũng cần được xác minh: đó là tên gọi trước đây, cách phiên âm từ tài liệu quân sự hay một địa danh đã thay đổi sau nhiều lần điều chỉnh hành chính. Các dấu mốc hiện nay như khu dân cư, đường Quang Trung, sân cỏ Ia Blang và các điểm được thể hiện trên ảnh chỉ nên dùng để định hướng khảo sát ban đầu, không phải căn cứ duy nhất để tổ chức tìm kiếm hoặc khai quật.
Một vấn đề khác cần làm rõ là sau khi các liệt sĩ được an táng ban đầu tại ô tọa độ này, khu vực đã từng có đợt quy tập nào hay chưa; nếu có thì hài cốt được đưa về nghĩa trang nào, danh sách quy tập có ghi tên hay chỉ ghi “liệt sĩ chưa biết tên”. Vì vậy, ngoài việc nghiên cứu bản đồ, cần tra cứu hồ sơ tại cơ quan quân sự tỉnh Gia Lai, cơ quan chính sách của đơn vị kế thừa E24 và các nghĩa trang liệt sĩ trong khu vực.
4- Cha mẹ đã qua đời, các thế hệ vẫn nối nhau tìm kiếm
Cụ Bùi Văn Tất và cụ Quách Thị Xin đã dành phần lớn cuộc đời để mong ngóng tin con. Người con trai ra đi từ cuối năm 1969, hy sinh năm 1971 nhưng chưa thể trở về với quê nhà. Suốt những năm tháng còn sống, hai cụ vẫn mang theo niềm hy vọng rằng một ngày nào đó sẽ biết được chính xác nơi con mình nằm lại.
Tiếc rằng, ước nguyện ấy chưa thành thì cả hai cụ đã lần lượt qua đời. Hiện nay, người em trai của liệt sĩ là người trực tiếp hương khói, thờ cúng anh. Trước bàn thờ, gia đình vẫn nhắc nhớ về người lính đã rời quê hương khi tuổi đời còn rất trẻ. Những người cháu sinh ra sau chiến tranh, dù chưa từng được gặp bác, vẫn coi việc tìm kiếm phần mộ của ông là trách nhiệm tình cảm của thế hệ mình.

Thay mặt gia đình, anh Bùi Bảo Quốc bày tỏ nguyện vọng: “Gia đình chúng tôi tha thiết mong Dự án TTU–VWAI quan tâm, hỗ trợ tra cứu hồ sơ, đối chiếu thông tin, xác minh địa điểm hy sinh và nơi an táng ban đầu của liệt sĩ Bùi Xuân Hoạt, nhằm giúp gia đình tìm được phần mộ để đưa liệt sĩ trở về quê hương”.
Mong muốn ấy giản dị mà day dứt: tìm được nơi người thân đang nằm lại, đón ông trở về quê nhà, để gia đình và dòng họ có điều kiện chăm lo hương khói; để người em trai được thắp nén hương trước phần mộ của anh mình; để các thế hệ con cháu biết rằng hành trình tìm kiếm kéo dài hơn nửa thế kỷ cuối cùng đã có một ngày đoàn tụ.
5- Cần kết nối thân nhân và đồng đội của 13 liệt sĩ
Trong không khí tháng Bảy tri ân và khi cả nước đang hưởng ứng “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, những manh mối liên quan đến liệt sĩ Bùi Xuân Hoạt và 12 đồng đội cần được cộng đồng tiếp tục chia sẻ, kiểm chứng.
Dự án TTU–VWAI mong muốn kết nối với thân nhân của 13 liệt sĩ có tên trong danh sách; các cựu chiến binh từng công tác, chiến đấu tại E24 và địa bàn Gia Lai trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 6/1971; cán bộ từng tham gia tìm kiếm, quy tập tại khu vực làng Quái, Ia Blang; cùng các nhà nghiên cứu có bản đồ K5 Gia Lai tỷ lệ 1/50.000.
Việc kết nối cần tập trung làm rõ một số câu hỏi: Liệt sĩ Bùi Xuân Hoạt có đồng thời mang tên Bùi Văn Hoạt hay không? Ngày hy sinh chính xác là 6/4 hay 4/6/1971? Phiên hiệu đơn vị tại thời điểm hy sinh là C1, D4 hay C1, K4, E24A? Tọa độ (14–82)06 thuộc địa bàn hành chính nào hiện nay? Khu vực đó đã được quy tập hay chưa và các liệt sĩ được đưa về nghĩa trang nào?
Mỗi giấy báo tử, bức thư, trang nhật ký, sơ đồ mộ chí hay ký ức của đồng đội đều có thể trở thành một mắt xích quý giá. Khi 13 gia đình cùng kết nối, cuộc tìm kiếm không còn là hành trình đơn độc của riêng một dòng họ, mà trở thành sự chung tay để trả lại tên tuổi và nơi an nghỉ cho những người đã hy sinh vì Tổ quốc.
Hơn 55 năm đã trôi qua, người lính trẻ Bùi Xuân Hoạt vẫn chưa trở về. Nhưng tại quê nhà, ngọn khói hương dành cho ông chưa bao giờ tắt. Cha mẹ đã đi xa, người em trai đã già, còn những người cháu vẫn tiếp tục cuộc kiếm tìm với niềm tin bền bỉ: từ danh sách đồng đội và ô tọa độ còn lưu lại, sẽ có ngày gia đình xác định được nơi ông yên nghỉ, đón ông trở về trong vòng tay quê hương, dòng họ.
Hà Nội, 20/7/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)











