Hồ sơ số 65/2026: Năm cái tên trong một trang giấy cũ, ai biết Phong, Loan, Bá, Đại/Đạt, Nghi/Nghị ?

Trong hàng triệu trang tài liệu chiến tranh còn lưu giữ, có những hồ sơ dày dặn, đủ họ tên, đơn vị và diễn biến trận đánh; nhưng cũng có những mảnh giấy chỉ còn vài dòng vội vã. Hồ sơ CDEC F034605810839, số nhật ký 08-1587-69, thuộc trường hợp thứ hai. Tài liệu do Đại đội C, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Kỵ binh 8, Lữ đoàn 2, Sư đoàn Kỵ binh số 1 Hoa Kỳ thu giữ ngày 11/8/1969 tại tỉnh Tây Ninh. Tọa độ được ghi là 48P XT 326 786 theo hệ quy chiếu Indian 1960, tương đương khoảng 11,56 độ vĩ bắc, 106,21 độ kinh đông theo WGS84. Địa điểm ấy nay thuộc xã Tân Thành, tỉnh Tây Ninh; trước năm 2025 là xã Suối Dây, huyện Tân Châu.

Một tài liệu viết tay bị thu giữ tại Suối Dây, Tây Ninh, ngày 11/8/1969 chỉ ghi vắn tắt năm quân nhân hy sinh: Phong, Loan, Bá, Đại/Đạt và Nghi/Nghị. Không họ tên đầy đủ, không quê quán, không phiên hiệu đơn vị, nhưng những dòng chữ ấy vẫn là dấu vết quý giá để lần tìm số phận con người.

Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, hồ sơ CDEC F034605810839 đang cần sự chung tay của thân nhân, đồng đội và nhân chứng nhằm trả lại danh tính cho những người đã nằm xuống. Hồ sơ do các nhà nghiên cứu Trần Công Đại và Nguyễn Thị Kim Hoa của Dự án “Sáng kiến Tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” (TTU-VWAI) vừa thực hiện.

1- Một trung đội đi 28 người, trở về không đủ

Trong hàng triệu trang tài liệu chiến tranh còn lưu giữ, có những hồ sơ dày dặn, đủ họ tên, đơn vị và diễn biến trận đánh; nhưng cũng có những mảnh giấy chỉ còn vài dòng vội vã. Hồ sơ CDEC F034605810839, số nhật ký 08-1587-69, thuộc trường hợp thứ hai. Tài liệu do Đại đội C, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Kỵ binh 8, Lữ đoàn 2, Sư đoàn Kỵ binh số 1 Hoa Kỳ thu giữ ngày 11/8/1969 tại tỉnh Tây Ninh. Tọa độ được ghi là 48P XT 326 786 theo hệ quy chiếu Indian 1960, tương đương khoảng 11,56 độ vĩ bắc, 106,21 độ kinh đông theo WGS84. Địa điểm ấy nay thuộc xã Tân Thành, tỉnh Tây Ninh; trước năm 2025 là xã Suối Dây, huyện Tân Châu.

Hồ sơ gồm hai tài liệu, tổng cộng sáu trang, trong đó có ba trang tài liệu gốc bằng tiếng Việt. Đáng chú ý nhất là tờ “Bộ đội chiến đấu về”. Chữ viết ngắn, nhiều chỗ khó đọc, nhưng nội dung cho thấy một trung đội chưa xác định phiên hiệu đã đi làm nhiệm vụ với 28 người và trở về không đủ quân số. Năm người được ghi là đã hy sinh: Phong (có thể được phiên âm thành Fong), Loan, Bá, Đại hoặc Đạt, Nghi hoặc Nghị. Ba đến năm người bị thương gồm Hảo, Cơ, Hiệu hoặc Hiếu, Huế hoặc Hiếu và Thương. Những cách đọc khác nhau được giữ nguyên vì bản gốc mờ, chưa có tài liệu độc lập để xác quyết.

Phía sau những cái tên ngắn ngủi là tổn thất rất cụ thể của một đơn vị. Danh mục trang bị ghi mất hai trong sáu khẩu AK, một trong sáu khẩu CKC, mất 11 trong 50 quả lựu đạn; 25 chiếc xẻng không còn, một trong hai chiếc cưa, một xẻng lớn, hai trong ba chiếc cuốc và hai bộ dây điện cũng bị mất. Súng ĐKZ 75 cùng cơ số đạn được ghi là không hỏng, không mất. Những con số lạnh lùng ấy gợi ra một cuộc trở về sau chiến đấu đầy mất mát: người không còn đủ, vũ khí và dụng cụ thất tán, nhiều đồng đội mang thương tích.

Cho đến nay, chưa thể xác định năm quân nhân hy sinh là ai. Không ai trong số họ có họ tên đầy đủ trên tờ giấy; không có quê quán, cấp bậc, ngày hy sinh hay nơi an táng. Song chính việc năm người được ghi cùng một cụm thương vong lại mở ra một hướng đối chiếu quan trọng: nếu tìm thấy hồ sơ đơn vị hoặc danh sách liệt sĩ có năm tên gọi tương ứng, hy sinh cùng thời điểm và địa bàn, các dữ kiện rời rạc có thể ghép lại thành một câu chuyện hoàn chỉnh.

2- Từ “Tổ hợp bệnh viện” đến dấu vết quanh Suối Dây

CDEC F034605810839 không xuất hiện đơn độc. Đây là một trong 27 hồ sơ bị thu giữ cùng ngày, cùng tọa độ, tại một địa điểm được phía Hoa Kỳ chú thích là “tổ hợp bệnh viện” - nhiều khả năng là một bệnh viện hoặc trạm quân y dã chiến. Hai tài liệu trong hồ sơ được phát hiện cùng khối giấy tờ có liên quan đến Trung đoàn 95C, Sư đoàn 1 Quân đội nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, trong toàn bộ 27 hồ sơ, đây là trường hợp duy nhất chưa có chỉ dấu rõ ràng về đơn vị sở hữu. Vì vậy, chưa thể đồng nhất trung đội có 28 người với Trung đoàn 95C chỉ dựa trên hoàn cảnh thu giữ.

Một tài liệu khác trong hồ sơ mang tên “Kế hoạch hướng dẫn NQFB trong mùa mưa 69”. Nội dung đặt mục tiêu bảo đảm quân số 97%, nhấn mạnh phòng chống sốt rét, nhất là đối với tân binh; ngủ khô, ăn uống tốt, chống gai nhọn và làm tốt công tác cấp cứu. Đó là những việc tưởng như nhỏ bé, nhưng ở chiến trường rừng nhiệt đới, một cơn sốt rét, một vết gai đâm hay một đêm nằm ướt cũng có thể làm người lính suy kiệt, thậm chí mất sức chiến đấu. Tài liệu vì thế không chỉ có giá trị truy tìm danh tính mà còn lưu giữ một lát cắt chân thực về đời sống quân ngũ trong mùa mưa Đông Nam Bộ năm 1969.

Các kết quả nghiên cứu bước đầu đặt hồ sơ vào không gian giao tranh gần căn cứ hỏa lực Becky, cách điểm thu giữ khoảng 5,2 km về phía đông bắc. Tài liệu phía Hoa Kỳ cho thấy khu vực này có giao tranh dữ dội trong các ngày 10-12/8/1969, liên quan đến lực lượng Trung đoàn 95C và các đơn vị đóng tại căn cứ. Ngày thu giữ, tọa độ, đơn vị thu giữ và vị trí của “tổ hợp bệnh viện” tạo nên một chuỗi chỉ dấu đáng chú ý. Tuy nhiên, hiện chưa có đủ chứng cứ để khẳng định năm người được ghi trong tờ “Bộ đội chiến đấu về” hy sinh trực tiếp trong trận đánh quanh Becky. Sự kiện thương vong hoàn toàn có thể diễn ra trước đó, ở một địa điểm khác, rồi báo cáo được mang về nơi đóng quân hoặc trạm quân y.

Sự thận trọng ấy đặc biệt cần thiết trong hoạt động tìm kiếm người mất tích trong chiến tranh. Một giả thuyết chỉ có ý nghĩa khi tiếp tục được kiểm chứng bằng nhật ký tác chiến, báo cáo sau hoạt động, hồ sơ chính sách, danh sách liệt sĩ của đơn vị và ký ức của nhân chứng. Không nên biến một khả năng thành kết luận, bởi chỉ một sai lệch nhỏ về tên, ngày tháng hay phiên hiệu cũng có thể làm hành trình tìm kiếm của một gia đình rẽ sang hướng khác.

3- Trả lại họ tên đầy đủ cho những người đã khuất

Văn hóa tri ân không chỉ hiện hữu trong những nghĩa trang khang trang, những nén hương trong “Chiến dịch 500 ngày đêm…”, hay các công trình tưởng niệm. Tri ân còn là sự kiên nhẫn đọc lại một nét chữ mờ, đối chiếu một cách viết tên chưa chắc chắn, tìm lại một con đường vận chuyển thương binh, một trạm quân y giữa rừng hoặc một vị trí chôn cất ban đầu đã đổi khác qua thời gian. Với năm quân nhân trong hồ sơ này, công việc đầu tiên và căn bản nhất là trả lại cho họ họ tên đầy đủ, quê hương, đơn vị và câu chuyện đời mình.

Những tên gọi Phong, Loan, Bá, Đại/Đạt, Nghi/Nghị có thể chỉ là tên thường dùng trong đơn vị; cũng có thể đã bị đọc sai do nét chữ, chất lượng bản sao hoặc quá trình phiên dịch. Bởi vậy, rất cần thân nhân các liệt sĩ hy sinh tại Tây Ninh trong năm 1969 kiểm tra giấy báo tử, Bằng Tổ quốc ghi công, thư báo tin, sổ gia đình và những ghi chép còn lưu giữ. Đặc biệt đáng chú ý là các trường hợp hy sinh theo nhóm vào khoảng tháng 8/1969, có đơn vị liên quan Trung đoàn 95C, Sư đoàn 1 hoặc Sư đoàn 9, từng hoạt động ở Suối Dây, Tân Châu, Chiến khu C và vùng biên giới Tây Ninh.

Các cựu chiến binh từng phục vụ trong Trung đoàn 95C, lực lượng công binh, đơn vị hỏa lực ĐKZ 75, quân y, tải thương hoặc xây dựng căn cứ tại khu vực Suối Dây năm 1969 có thể nắm giữ chìa khóa quan trọng. Chi tiết một trung đội 28 người mang theo nhiều xẻng, cuốc, cưa, dây điện nhưng số súng cá nhân không tương xứng cho phép đặt giả thuyết đây có thể là bộ phận vừa chiến đấu, vừa làm công sự hoặc xây dựng căn cứ. Song giả thuyết ấy cũng cần được chính những người trong cuộc xác nhận.

Những người dân cao tuổi ở Tân Thành, Suối Dây và vùng lân cận; cựu du kích, dân công hỏa tuyến, cán bộ quân y, cán bộ chính sách và lực lượng từng tham gia quy tập cũng có thể còn nhớ dấu vết một bệnh viện dã chiến, trạm tiếp nhận thương binh, đường cáng thương hoặc nơi chôn cất tạm sau các trận đánh. Địa hình đã thay đổi, rừng cũ có thể thành đồng ruộng, đường mòn có thể thành tỉnh lộ, nhưng ký ức cộng đồng đôi khi vẫn lưu giữ những mốc mà bản đồ không thể hiện: một bờ suối, gốc cây lớn, nền lán, hố bom hay khoảnh đất nhiều năm người dân tránh canh tác.

Cùng với việc tìm nhân chứng, cần rà soát chéo 26 hồ sơ CDEC được thu giữ tại cùng tọa độ; đối chiếu hồ sơ liệt sĩ theo cụm tên và thời gian; kiểm tra nhật ký sĩ quan hằng ngày, báo cáo sau hoạt động và báo cáo tác chiến của những đơn vị liên quan. Mỗi nguồn chỉ có thể cung cấp một phần sự thật. Khi bản đồ, hồ sơ, danh sách thương vong và lời kể gặp nhau, khả năng nhận diện đơn vị và từng con người sẽ rõ hơn.

4- Một lời gọi qua hơn nửa thế kỷ

Chiến tranh thường để lại những khoảng trống lớn, nhưng đôi khi cánh cửa tìm kiếm lại bắt đầu từ một chi tiết rất nhỏ. Với hồ sơ CDEC F034605810839, đó là năm cái tên viết vội trên một trang giấy: Phong, Loan, Bá, Đại/Đạt, Nghi/Nghị. Có thể ở một miền quê nào đó, năm gia đình vẫn đang thờ người thân bằng một tấm ảnh đã bạc màu; vẫn chỉ biết người con, người anh hay người chồng của mình hy sinh ở chiến trường miền Nam mà chưa rõ nơi nằm lại. Cũng có thể đồng đội của họ còn nhớ một trận đánh, một chuyến cáng thương, một người đã gửi lại ba lô trước giờ xuất kích.

Bên cạnh năm người đã hy sinh, hồ sơ còn nhắc đến những quân nhân bị thương mang tên Hảo, Cơ, Hiệu/Hiếu, Huế/Hiếu và Thương. Nếu còn sống, hoặc nếu gia đình họ lưu giữ hồi ức, thư từ và giấy tờ quân ngũ, chính những nhân vật này có thể giúp nhận diện trung đội, thời điểm chiến đấu và đồng đội đã ngã xuống. Vì thế, lời kêu gọi không chỉ hướng đến thân nhân năm liệt sĩ mà còn mong tìm các cựu quân nhân, quân y, tải thương và cán bộ từng công tác cùng đơn vị.

Mỗi hồ sơ chiến tranh được giải mã là một lần lịch sử trở về với đúng tên người. Một di vật được trao lại, một danh tính được xác nhận hay một nơi an táng được khoanh vùng đều có ý nghĩa vượt khỏi phạm vi một gia đình. Đó là cách cộng đồng hôm nay thực hành đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, bù đắp phần nào những mất mát chưa thể khép lại và góp phần nối dài nỗ lực tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.

Ai biết thông tin về các quân nhân Phong, Loan, Bá, Đại hoặc Đạt, Nghi hoặc Nghị; về những người bị thương tên Hảo, Cơ, Hiệu/Hiếu, Huế/Hiếu, Thương; hoặc về một trung đội 28 người từng hoạt động tại Tây Ninh trước ngày 11/8/1969, xin hãy cung cấp tư liệu cho Dự án “Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” (TTU-VWAI). Một tên gọi đầy đủ, một phiên hiệu đơn vị, một bức thư, một tấm ảnh, một trang nhật ký hay ký ức về địa hình đều có thể trở thành mắt xích quyết định. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng chừng nào vẫn còn người nhớ và còn người đi tìm, những cái tên trên trang giấy cũ vẫn chưa rơi vào quên lãng.

Hà Nội, 11/8/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)

Đặng Vương Hưng

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/ho-so-so-652026-nam-cai-ten-trong-mot-trang-giay-cu-ai-biet-phong-loan-ba-daidat-nghinghi-a34563.html