Hồ sơ số 75/2026: Đi tìm nơi liệt sĩ Nguyễn Văn Khánh hy sinh qua những trang di bút nhật ký thời chiến

Gần 58 năm đã trôi qua kể từ ngày Trung sĩ Nguyễn Văn Khánh hy sinh. Cụ bà Phan Thị Chúc nay đã ở tuổi cao. Hai người con là Nguyễn Đức Thọ và Nguyễn Thị Xuân cùng các cháu, chắt vẫn mong một ngày biết được nơi người thân đã ngã xuống, để có thể đến thắp một nén hương và nói với ông rằng gia đình chưa bao giờ ngừng tìm kiếm.Anh Nguyễn Minh Hải chia sẻ, gia đình mong Dự án TTU-VWAI hỗ trợ nghiên cứu những trang nhật ký, kết nối với thân nhân các chiến sĩ thuộc Tiểu đội 11 và tìm kiếm thêm tài liệu liên quan. Gia đình cũng tha thiết mong các cựu chiến binh, cán bộ giao liên Trường Sơn, đồng đội cũ hoặc thân nhân những người có tên trong cuốn nhật ký cùng cung cấp thông tin.

Hơn nửa thế kỷ sau ngày Trung sĩ Nguyễn Văn Khánh hy sinh tại mặt trận phía Nam, cuốn nhật ký đã úa màu vẫn còn lưu giữ hành trình người lính rời quê, vượt Trường Sơn vào chiến trường cùng tên tuổi những đồng đội của Tiểu đội 11.

Từ những trang giấy mỏng manh ấy, gia đình liệt sĩ hy vọng có thể lần theo dấu chân đơn vị, kết nối nhân chứng và xác định nơi ông đã ngã xuống ngày 16/7/1968. Hưởng ứng “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, gia đình liệt sĩ vừa kết nối với Dự án “Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh”…

1.Cuốn nhật ký trở thành “tấm bản đồ ký ức”

Anh Nguyễn Minh Hải, hiện sống và làm việc tại thành phố Hà Nội, là cháu nội của liệt sĩ Nguyễn Văn Khánh. Trong lá thư gửi Dự án “Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” – TTU-VWAI, anh Hải bày tỏ mong muốn tìm lại thông tin về nơi ông nội mình hy sinh và an táng ban đầu.

Liệt sĩ Nguyễn Văn Khánh sinh năm 1939, nguyên quán xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Sơn Bình trước đây, nay thuộc thành phố Hà Nội. Ông mang cấp bậc Trung sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, hy sinh ngày 16/7/1968 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Khánh hy sinh, người vợ trẻ Phan Thị Chúc, sinh năm 1940, phải một mình gánh vác gia đình khi hai con còn thơ dại. Dẫu tuổi đời còn rất trẻ, bà vẫn không đi thêm bước nữa, lặng lẽ ở vậy nuôi hai người con là ông Nguyễn Đức Thọ, sinh năm 1963, hiện kinh doanh tự do, và bà Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1966, nguyên là giáo viên, nay đã nghỉ hưu, khôn lớn, trưởng thành. Trong suốt những năm tháng gian khó ấy, bà vừa là mẹ, vừa thay người cha đã nằm lại nơi chiến trường, chắt chiu từng ngày để gìn giữ mái ấm và ký ức về người chồng liệt sĩ.

Hiện nay, cụ bà Phan Thị Chúc cùng con trai là ông Nguyễn Đức Thọ và gia đình vẫn sinh sống tại quê nhà. Tuổi đã cao, nhưng cụ vẫn đau đáu một niềm mong mỏi: trước khi nhắm mắt, có thể biết được chính xác nơi người chồng của mình đã hy sinh và được đồng đội mai táng. Khát vọng ấy cũng được các con, các cháu tiếp nối, trở thành hành trình đi tìm người chồng, người cha, người ông đã xa gia đình hơn nửa thế kỷ nhưng chưa bao giờ vắng bóng trong ký ức của những người ở lại.

Manh mối đặc biệt nhất mà gia đình còn giữ được là một cuốn nhật ký thời chiến. Những trang giấy kẻ ô ly đã sờn rách, ố vàng, nhiều chỗ nhòe mực hoặc mất góc. Tuy vậy, trên đó vẫn còn khá rõ nét bút, ngày tháng, những bài thơ, dòng tâm sự, ký hiệu đơn vị và tên một số đồng đội.

Cuốn nhật ký không chỉ là kỷ vật của một gia đình. Nếu được nghiên cứu, đối chiếu cẩn trọng với hồ sơ quân nhân, phiên hiệu đơn vị, tài liệu hành quân và danh sách liệt sĩ, những dòng chữ ấy có thể trở thành một “tấm bản đồ ký ức”, giúp lần ngược hành trình của người lính trước khi ông hy sinh

2. Từ quê nhà đến những dốc núi Trường Sơn

Những trang nhật ký còn lại cho thấy một thế giới nội tâm giàu tình cảm của người lính Nguyễn Văn Khánh. Ông không chỉ ghi lại việc học tập, huấn luyện và hành quân, mà còn chép thơ, viết về quê hương, cha mẹ, người vợ trẻ và những người thân đang mong đợi mình trở về.

Trong bài thơ “Ra đi”, người lính viết:

“Ra đi làm lại cuộc đời

Ra đi gìn giữ bầu trời quê

Đã ra đi, đã ra đi

Làm người lính chiến

Hiến dâng mình cho Tổ quốc...”

Ở một trang khác, ông nhắn gửi mẹ:

“Mẹ ơi ở lại con đi

Anh buồn đường dưới hàng mi mẹ cười...

Con đi bảo vệ quê hương

Con đi chiến đấu lên đường vẻ vang...

Những câu chữ mộc mạc ấy cho thấy phía sau người chiến sĩ là một người con luôn đau đáu nhớ mẹ, một người chồng thương vợ và một người cha nhớ các con. Ông hiểu rõ chiến tranh có thể khiến ngày trở về trở nên xa vời, nhưng vẫn tự nhủ phải hoàn thành nhiệm vụ.

Trong bài “Nhắn nhủ em trong buổi đi B”, đề ngày 21/9/1967, ông viết về chặng đường hành quân và nỗi nhớ quê nhà:

“Hôm nay anh nhắn nhủ em

Giữa rừng sâu thẳm suối reo trong lòng...

Anh đi xa cách lâu ngày

Thầy mẹ thương nhớ xóm làng quê hương...

Lầu Năm Góc tiếng đồn vang

Chúng ta quyết vượt Trường Sơn lên đường.”

Hai chữ “đi B” được ghi trong nhật ký là một dấu mốc quan trọng. Đó là cách gọi quen thuộc đối với cán bộ, chiến sĩ miền Bắc lên đường vào chiến trường miền Nam. Những trang viết sau đó lần lượt xuất hiện hình ảnh núi rừng, suối sâu, dốc cao, những chặng hành quân hàng chục kilômét và các đêm nghỉ giữa Trường Sơn.

Ngày 24/9/1967, trong bài “Nghĩ lại”, ông ghi lại buổi chia tay, hành trình đi vào khu rừng và quãng đường khoảng 55km. Ngày 8/10/1967, nhật ký xuất hiện dòng chữ “Kỷ niệm vượt Trường Sơn”. Những ngày 9, 10, 11, 12, 13 và 14/10/1967 tiếp tục là những ghi chép về việc mang vác nặng, leo dốc, vượt suối trong mưa, đường trơn, chân đau và sức lực bị thử thách tới giới hạn.

Có ngày, đoàn hành quân liên tục khoảng chín giờ; có chặng phải vượt qua nhiều đỉnh dốc, lội suối và tìm nước uống giữa núi rừng. Những câu chữ đã mờ nhưng người đọc vẫn hình dung được đôi vai nặng trĩu ba lô, những bàn chân phồng rộp và ý chí của người lính trên con đường ra trận.

Trong bài thơ “Về với núi rừng”, người lính viết:

“Anh về vui hát núi rừng

Vui từng khe suối đến từng cây cao

Anh về xây một phong trào

Rừng thời là bạn, khe vào miền Nam...”

Còn ở bài “Vượt nguồn”, núi rừng không chỉ là gian khổ mà đã trở thành một phần của đời lính:

“Luôn đi giữa đỉnh Trường Sơn điệp trùng

Nguồn xa nước chảy nghiêng rừng

Núi cao vách đá nhích từng bước lên...”

Những địa danh cụ thể chưa xuất hiện rõ ràng trong các ảnh chụp hiện có. Tuy nhiên, chuỗi thời gian liên tục từ tháng 9 đến tháng 10/1967, cùng nội dung vượt Trường Sơn vào Nam, có thể giúp các nhà nghiên cứu khoanh vùng thời điểm hành quân, tuyến giao liên và đơn vị tiếp nhận người lính Nguyễn Văn Khánh.

3. Tên những đồng đội trong Tiểu đội 11

Một trang cuối cuốn nhật ký có dòng “Tiểu đội 11” và danh sách tên các chiến sĩ. Qua ảnh chụp, có thể bước đầu đọc được một số tên như: Viện, Khánh, Tới, Phú, Thắng, Khoát, Toan, Khai, Mậu, Lâm, Công và Lý. Một số chữ đã mờ, nên danh sách này cần tiếp tục được gia đình, đồng đội cũ và cơ quan chuyên môn đối chiếu trước khi khẳng định chính thức.

Đây là manh mối vô cùng đáng quý. Mỗi cái tên có thể mở ra một hướng tìm kiếm: hồ sơ quân nhân, danh sách đơn vị, giấy báo tử, thông tin thân nhân hoặc ký ức của một đồng đội còn sống. Chỉ cần xác định được một người trong danh sách, gia đình có thể lần ra phiên hiệu đơn vị, chiến trường hoạt động và hoàn cảnh hy sinh của liệt sĩ Nguyễn Văn Khánh.

Ở một trang khác còn có các ký hiệu liên quan đến đại đội, tiểu đoàn và một số con số. Do giấy bị rách, mực nhòe và cách ghi tắt mang tính quân sự, các ký hiệu này chưa nên giải đoán vội vàng. Việc xác minh cần được thực hiện bằng cách so sánh bản gốc cuốn nhật ký với hồ sơ lưu trữ trong nước, tài liệu đơn vị và nguồn tư liệu chiến trường của phía Hoa Kỳ.

Cuốn nhật ký được viết trước thời điểm liệt sĩ hy sinh gần một năm. Vì vậy, cần làm rõ sau hành trình vượt Trường Sơn, ông được biên chế về đơn vị nào; Tiểu đội 11 thuộc đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn nào; đơn vị hoạt động tại địa bàn nào trong tháng 7/1968; trận đánh nào diễn ra vào hoặc gần ngày 16/7/1968; những trường hợp hy sinh trong trận ấy được mai táng ở đâu và sau chiến tranh đã được quy tập hay chưa.

Đó là một chuỗi câu hỏi không dễ trả lời. Nhưng với công tác tìm kiếm liệt sĩ, đôi khi một ngày tháng, một cái tên đồng đội hoặc một ký hiệu tưởng như rất nhỏ lại có thể trở thành chiếc chìa khóa mở ra cả một hồ sơ đã im lặng hàng chục năm.

4. Mong tìm được người biết thông tin

Gần 58 năm đã trôi qua kể từ ngày Trung sĩ Nguyễn Văn Khánh hy sinh. Cụ bà Phan Thị Chúc nay đã ở tuổi cao. Hai người con là Nguyễn Đức Thọ và Nguyễn Thị Xuân cùng các cháu, chắt vẫn mong một ngày biết được nơi người thân đã ngã xuống, để có thể đến thắp một nén hương và nói với ông rằng gia đình chưa bao giờ ngừng tìm kiếm.

Anh Nguyễn Minh Hải chia sẻ, gia đình mong Dự án TTU-VWAI hỗ trợ nghiên cứu những trang nhật ký, kết nối với thân nhân các chiến sĩ thuộc Tiểu đội 11 và tìm kiếm thêm tài liệu liên quan. Gia đình cũng tha thiết mong các cựu chiến binh, cán bộ giao liên Trường Sơn, đồng đội cũ hoặc thân nhân những người có tên trong cuốn nhật ký cùng cung cấp thông tin.

Trong bối cảnh cả nước đang triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, việc giải mã một cuốn nhật ký thời chiến không chỉ giúp một gia đình tìm lại người thân. Đó còn là hành động tri ân đối với cả một thế hệ đã gửi tuổi xuân nơi chiến trường.

Những trang giấy có thể đã mục nát theo thời gian, nhưng lời người lính vẫn còn đó: “Dù có phải xông pha/ Ta vẫn chưa có ngã/ Đã ra đi/ Vững bước/ Thề quyết thắng.”

Hơn nửa thế kỷ qua, ông Nguyễn Văn Khánh chưa trở về. Nhưng những dòng di bút đã trở thành lời chỉ dẫn để con cháu tiếp tục đi tìm. Gia đình hy vọng rằng, từ tên những đồng đội trong Tiểu đội 11, từ hành trình vượt Trường Sơn và những ký hiệu còn sót lại, một ngày nào đó, nơi người lính hy sinh sẽ được xác định.

Ai từng là đồng đội của liệt sĩ Nguyễn Văn Khánh, biết thông tin về Tiểu đội 11 hoặc nhận ra những cái tên, ký hiệu đơn vị trong cuốn nhật ký, xin vui lòng liên hệ: Anh Nguyễn Minh Hải. Điện thoại: 0915 058 565.

Mỗi thông tin, dù nhỏ bé, cũng có thể giúp bà Phan Thị Chúc, hai người con cùng nhiều thế hệ cháu, chắt tìm được nơi người lính thân yêu đã nằm lại.

Hà Nội, 24/8/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)

Đặng Vương Hưng

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/ho-so-so-752026-di-tim-noi-liet-si-nguyen-van-khanh-hy-sinh-qua-nhung-trang-di-but-nhat-ky-thoi-chien-a34722.html