Hoàn thiện pháp lý để mở rộng tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp
Theo ĐBQH Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp), tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp vừa góp phần giảm thiểu rủi ro tín dụng, vừa nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Để thúc đẩy triển khai rộng rãi, ông đề xuất cần sớm hoàn thiện khung pháp lý với mô hình liên kết chuỗi trong nông nghiệp, tạo cơ sở để ngân hàng mở rộng cho vay theo chuỗi giá trị.
Hiệu quả tích cực từ cho vay theo chuỗi giá trị
Tại Hội thảo "Hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh", do Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức, ĐBQH Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) cho biết, ở Đồng Tháp - vựa lúa, vựa trái cây, vựa cá da trơn lớn của cả nước, việc triển khai cho vay theo chuỗi giá trị mang lại những hiệu quả tích cực.
"Hiện nay, hoạt động sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá da trơn được tổ chức theo chuỗi liên kết tương đối hoàn chỉnh. Các tổ chức tín dụng cũng rất yên tâm khi cho vay theo chuỗi này, bởi rủi ro tín dụng trong thời gian qua hầu như chưa phát sinh đáng kể", ông cho biết.
Đặc biệt, khi cho vay theo chuỗi giá trị nông nghiệp, ngân hàng không chỉ dựa vào tài sản thế chấp truyền thống mà có thể dựa trên sản lượng và quy mô sản xuất. Ví dụ, một doanh nghiệp nuôi cá da trơn có diện tích ao nuôi xác định, kế hoạch thả nuôi và sản lượng dự kiến rõ ràng, ngân hàng có thể căn cứ vào phương án sản xuất, kinh doanh và kinh nghiệm vận hành thực tế để đánh giá năng lực sản xuất, làm cơ sở xem xét, quyết định cấp tín dụng.

ĐBQH Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp)
Trong lĩnh vực trồng lúa và cây ăn quả, mô hình tín dụng theo chuỗi giá trị cho thấy hiệu quả rõ rệt. Thay vì cho từng hộ nông dân vay riêng lẻ, ngân hàng tập trung cấp tín dụng cho doanh nghiệp đầu mối. Doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn này để cung ứng vật tư đầu vào, giống và dịch vụ kỹ thuật cho nông dân; đồng thời ký hợp đồng liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm với mức giá thỏa thuận trước.
Cách làm này giúp doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu, trong khi nông dân được hỗ trợ đầu vào và bảo đảm đầu ra, qua đó góp phần giảm rủi ro trong sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tuy nhiên, theo ĐBQH Phạm Văn Hòa, rủi ro trong sản xuất nông nghiệp vẫn là yếu tố khiến nhiều doanh nghiệp còn thận trọng khi tham gia liên kết chuỗi. Đối với doanh nghiệp, các rủi ro lớn nhất là thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường, có thể làm gián đoạn sản xuất, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn.
Trong thực tế, tại nhiều mô hình liên kết, doanh nghiệp thường đóng vai trò chủ đạo khi ứng trước vốn, cung ứng vật tư đầu vào, giống, quy trình kỹ thuật và công nghệ cho nông dân, trong khi người sản xuất chủ yếu tham gia bằng lao động. Khi xảy ra rủi ro dẫn đến giảm năng suất hoặc mất mùa, doanh nghiệp là bên chịu tác động tài chính trực tiếp, làm gia tăng rủi ro tín dụng và ảnh hưởng đến tính bền vững của chuỗi liên kết.
Ngược lại, doanh nghiệp cũng lo ngại tình trạng vi phạm hợp đồng khi giá nông sản tăng cao. Ví dụ, hai bên đã ký hợp đồng thu mua lúa với giá 10.000 đồng/kg, nhưng đến thời điểm thu hoạch, giá thị trường tăng cao hơn, một số nông dân có thể không thực hiện đúng cam kết. Điều này đặt ra vấn đề về kỷ luật hợp đồng và tính ràng buộc trong liên kết sản xuất.
Theo ĐBQH Phạm Văn Hòa, rủi ro không dừng lại ở doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức tín dụng, bởi nếu doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc mất khả năng thu hồi sản phẩm thì ngân hàng cũng có nguy cơ không thu hồi được vốn.
Hoàn thiện khung pháp lý cho liên kết sản xuất nông nghiệp
Theo ĐBQH Phạm Văn Hòa, để mô hình cho vay theo chuỗi giá trị giá trị phát triển bền vững, cần đặc biệt chú trọng hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động liên kết sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, cơ chế pháp lý để xử lý tranh chấp hợp đồng trong chuỗi liên kết vẫn chưa đủ rõ ràng và hiệu quả nên hiệu lực ràng buộc của hợp đồng chưa cao. Trong nhiều trường hợp, việc đưa tranh chấp ra tòa án có thể tốn kém chi phí và thời gian, khiến các bên ngại thực hiện.
Liên quan vấn đề này, ĐBQH Thạch Phước Bình, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long cho rằng, tình trạng người dân "bẻ kèo" trong thực hiện hợp đồng liên kết cũng là một khó khăn. Từ thực tế đó, cần xây dựng hành lang pháp lý và có chế tài đủ chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi các bên tham gia, đồng thời ngăn chặn tình trạng phá vỡ hợp đồng khi thị trường biến động giá.
Đại biểu Thạch Phước Bình nhấn mạnh, không thể để xảy ra tình trạng khi giá tăng thì bán ra bên ngoài, còn khi giá thấp hơn thì quay lại thực hiện hợp đồng với doanh nghiệp; cần có quy định cụ thể để bảo đảm sự công bằng và ổn định trong quan hệ liên kết.
Bên cạnh đó, cần gắn tín dụng theo chuỗi với bảo hiểm nông nghiệp nhằm chia sẻ rủi ro trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh. Theo đại biểu, nếu tín dụng theo chuỗi không đi kèm cơ chế bảo hiểm rủi ro thì sẽ rất khó bảo đảm tính bền vững của mô hình.
Về chính sách, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ nhất định đối với bảo hiểm nông nghiệp để khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm tham gia vào lĩnh vực này, bởi nông nghiệp là ngành có mức độ rủi ro cao. Do đó, sự đồng hành của Nhà nước là cần thiết nhằm chia sẻ rủi ro và thúc đẩy phát triển tín dụng nông nghiệp theo chuỗi giá trị.











