Hoàn thiện quy định về đầu tư, môi trường và quản lý không gian biển
Sáng 24-10, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội nghe trình bày tờ trình và báo cáo thẩm tra các dự án: Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
Sau đó, Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang và Đắk Lắk thảo luận tại tổ.
Đồng chí Lý Thị Lan, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh chủ trì phiên thảo thảo luận tổ.
Kiểm soát chặt chẽ nguy cơ ô nhiễm môi trường
Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, đại biểu Ma Thị Thúy đề nghị cải cách thủ tục phải đi đôi với kiểm soát nguy cơ ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe cộng đồng; đồng thời quản lý chặt toàn bộ vòng đời vật liệu chứa amiăng trắng.

Toàn cảnh phiên họp tổ sáng 24-10.
Đại biểu tán thành việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường. Đại biểu đề nghị Luật xác lập định hướng giảm dần, tiến tới chấm dứt sử dụng amiăng trắng; giao Chính phủ quy định mốc thời gian, giai đoạn chuyển tiếp, trách nhiệm thực hiện và cơ chế giám sát. Lộ trình cần dựa trên đánh giá tác động kinh tế – xã hội và khả năng thay thế vật liệu.
Về kiểm soát toàn bộ vòng đời, đại biểu đề nghị quy định trách nhiệm từ nhập khẩu, sản xuất, lưu thông đến sử dụng, sửa chữa, tháo dỡ; bảo đảm truy xuất nguồn gốc, công khai thành phần và thông tin nguy cơ. Với công trình đang sử dụng, cần hướng dẫn nhận diện, đánh giá, kiểm soát nguy cơ phát tán sợi amiăng, nhất là khi cải tạo hoặc xảy ra thiên tai.
Đối với chất thải chứa amiăng, đại biểu kiến nghị quy định quy trình thu gom, đóng gói, vận chuyển, lưu giữ và xử lý an toàn; làm rõ trách nhiệm của chủ công trình, đơn vị tháo dỡ, cơ sở tiếp nhận. Cần ngăn chặn việc đập vụn, nghiền hoặc tái sử dụng làm phát tán sợi amiăng. Phân loại chất thải phải dựa trên đánh giá nguy cơ, không mặc nhiên coi chất thải chưa được phân loại là nguy hại thì an toàn.

Đồng chí Lý Thị Lan, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh phát biểu chủ trì phiên thảo luận tổ.
Để bảo vệ người lao động và cộng đồng, đại biểu đề nghị gắn quản lý môi trường với an toàn, vệ sinh lao động; giám sát phơi nhiễm, hướng dẫn biện pháp bảo vệ, theo dõi sức khỏe người có nguy cơ. Nguyên tắc phòng ngừa và trách nhiệm cốt lõi cần được quy định trong Luật, còn quy chuẩn kỹ thuật cụ thể hóa yêu cầu thực hiện.
Đại biểu cũng đề nghị có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, phát triển vật liệu thay thế an toàn hơn, đào tạo lại lao động; có giải pháp cho hộ khó khăn, địa bàn còn sử dụng nhiều tấm lợp cũ. Hỗ trợ thay thế phải gắn với thu gom, xử lý an toàn, tránh dồn chi phí cho người dân và phát sinh bãi thải không được kiểm soát.
Đại biểu nhấn mạnh việc sửa Luật cần lấy bảo vệ sức khỏe con người làm trọng tâm, quy định rõ trách nhiệm và bảo đảm nguồn lực thực hiện, không để rủi ro môi trường và chi phí xử lý tiếp tục chuyển sang người dân và các thế hệ sau.
Tăng cường cơ chế phối hợp quản lý vùng biển
Thảo luận vào dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), đại biểu Hoàng Ngọc Định nhấn mạnh: Để bảo đảm việc triển khai Luật được chặt chẽ, hiệu quả, đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục phối hợp chặt chẽ với cơ quan, đơn vị chức năng của Bộ Quốc phòng trong việc xây dựng Nghị định của Chính phủ và các Thông tư, văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện Luật.

ĐBQH Ma Thị Thúy thảo luận dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Về cơ chế điều phối liên ngành (Điều 7) và phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển (Điều 22), đại biểu tán thành nguyên tắc việc phân định không làm ảnh hưởng đến thẩm quyền về quốc phòng, an ninh, biên giới quốc gia. Tuy nhiên, vùng biển Tây Nam có đặc thù, đề nghị bổ sung khoản 5 Điều 22: đối với vùng biển giáp ranh, vùng nước lịch sử chung, vùng chưa phân định, việc quản lý phải gắn với cơ chế phối hợp giữa chính quyền địa phương với Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quân. Đồng thời, đề nghị xác định rõ các lực lượng thực thi pháp luật trên biển là thành phần tham gia cơ chế điều phối (Điều 7), vì đây là lực lượng có mặt trên biển hằng ngày, bám sát, theo dõi tình hình ngư trường và tàu thuyền.
Về quyền tiếp cận biển của người dân (Điều 9), đại biểu đề nghị khoản 2 quy định rõ quy hoạch và giao khu vực biển phải bảo đảm bến, bãi neo đậu tàu cá và lối ra biển của cộng đồng ngư dân; trường hợp buộc phải di dời thì phải bố trí nơi neo đậu thay thế trước khi giao biển cho dự án.
Về chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cư ven biển, hải đảo (Điều 47), đại biểu cho rằng chưa xác định rõ đối tượng, hình thức và cơ chế hỗ trợ. Đại biểu đề nghị khoản 3 Điều 47 quy định cụ thể chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm, vay vốn ưu đãi để phát triển sinh kế thay thế cho ngư dân thuộc diện giảm cường lực khai thác; ưu tiên hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ven biển. Đồng thời, giao Chính phủ quy định điều kiện, mức hỗ trợ và nguồn kinh phí thực hiện, bảo đảm chính sách khả thi, góp phần ổn định đời sống ngư dân, phát triển nghề cá bền vững.

ĐBQH Hoàng Ngọc Định thảo luận dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).
Tháo gỡ vướng mắc trong phân loại dự án và xử lý rác thải
Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, đại biểu Vương Thị Hương tập trung góp ý ba nội dung liên quan đến phân loại dự án đầu tư, dịch vụ tư vấn môi trường và thu gom chất thải rắn sinh hoạt.
Về tiêu chí môi trường để phân loại dự án đầu tư tại Điều 28, đại biểu cho rằng dự thảo không còn xác định khu dân cư tập trung và nguồn nước dùng cho cấp nước sinh hoạt là yếu tố nhạy cảm về môi trường như Luật hiện hành. Trong khi đây là căn cứ để phân loại dự án và xác định công cụ quản lý môi trường, việc loại bỏ các yếu tố này có thể làm thay đổi mức độ kiểm soát ngay từ khâu sàng lọc. Đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc nhận diện yếu tố nhạy cảm theo khả năng dự án tác động trực tiếp đến nguồn nước cấp sinh hoạt và cộng đồng dân cư, giao Chính phủ quy định cụ thể ngưỡng, phạm vi và mức độ tác động; đặc biệt lưu ý điều kiện của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới.

ĐBQH Vương Thị Hương phát biểu dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Về yêu cầu năng lực của tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn môi trường tại Điều 31, đại biểu đề nghị làm rõ “yêu cầu năng lực” của tổ chức tư vấn môi trường là tiêu chuẩn chuyên môn hay điều kiện để được quyền cung cấp dịch vụ. Theo Luật Đầu tư, yêu cầu bắt buộc phải đáp ứng để thực hiện hoạt động kinh doanh có thể được coi là điều kiện đầu tư kinh doanh; trong khi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hiện không có “dịch vụ tư vấn môi trường”. Vì vậy, nếu xác định đây là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì phải sửa đồng bộ với Luật Đầu tư; nếu không, chỉ nên quy định tiêu chuẩn chuyên môn, trách nhiệm pháp lý và cơ chế hậu kiểm. Đại biểu đồng thời đề nghị thống nhất Điều 31 và Điều 43, xác định tổ chức tư vấn phải chịu trách nhiệm đối với nội dung chuyên môn, số liệu và kết quả do mình thực hiện.
Về quyền từ chối thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khoản 2 Điều 77, đại biểu thống nhất cần có cơ chế bảo đảm người dân thực hiện nghiêm việc phân loại rác, nhưng đề nghị làm rõ hai hành vi “phân loại không đúng” và “không sử dụng bao bì đúng quy định” là các căn cứ độc lập hay phải đồng thời xảy ra mới được từ chối thu gom. Đồng thời, quyền từ chối phải gắn với trách nhiệm thông báo lý do, hướng dẫn khắc phục và tiếp nhận lại chất thải khi người dân đã thực hiện đúng yêu cầu, tránh để rác tồn lưu kéo dài, nhất là tại miền núi, biên giới có tần suất thu gom thấp.
