Hoàn thiện thể chế cho liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp

Một dự thảo nghị định đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường lấy ý kiến sẽ vạch lại ranh giới lâu nay vẫn bị xóa nhòa. Mua bán nông sản theo mùa vụ sẽ không còn nghiễm nhiên được nhận hỗ trợ của Nhà nước. Chỉ những chuỗi giá trị thực chất mới được công nhận, và hợp tác xã được đặt vào vị trí trung tâm.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nền nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Đây không chỉ là sự thay đổi về phương thức tổ chức sản xuất mà còn là quá trình tái cấu trúc toàn diện ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững và thích ứng với những yêu cầu mới của thị trường toàn cầu.

Hợp tác xã không chỉ là cầu nối giữa nông dân với doanh nghiệp mà còn trực tiếp tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và làm truy xuất nguồn gốc.

Hợp tác xã không chỉ là cầu nối giữa nông dân với doanh nghiệp mà còn trực tiếp tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và làm truy xuất nguồn gốc.

Việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng Dự thảo Nghị định về “Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững” để thay thế Nghị định số 98/2018/NĐ-CP được xem là bước đi kịp thời nhằm hoàn thiện khung thể chế cho quá trình chuyển đổi này. Dự thảo không chỉ kế thừa những kết quả tích cực từ các chính sách trước đây mà còn bổ sung nhiều nội dung mới, phù hợp với xu thế phát triển của nền nông nghiệp hiện đại, trong đó nổi bật là chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và quản trị rủi ro trong sản xuất nông nghiệp.

Phân định rõ liên kết chuỗi giá trị với mua bán thông thường

Một trong những điểm mới đáng chú ý của dự thảo là làm rõ bản chất của liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp. Trong thực tiễn thời gian qua, nhiều quan hệ mua bán nông sản ngắn hạn thường được xem là liên kết sản xuất và tiêu thụ, dẫn đến việc chính sách hỗ trợ chưa thực sự đi vào đúng đối tượng.

Dự thảo đã xác định rõ hoạt động mua bán đơn thuần không kèm theo các cam kết về tổ chức sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, sản lượng, truy xuất nguồn gốc hay cơ chế chia sẻ rủi ro sẽ không được xem là liên kết chuỗi giá trị để hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Ngược lại, chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững phải được hình thành trên cơ sở hợp đồng liên kết giữa các chủ thể như doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất. Các bên cùng tham gia xây dựng vùng nguyên liệu, áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật, cam kết tiêu thụ sản phẩm và chia sẻ lợi ích cũng như rủi ro trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Cách tiếp cận này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, đồng thời tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho các mối liên kết lâu dài.

Nhưng ai sẽ đứng ra gánh vai trò tổ chức? Sản xuất nông nghiệp nước ta vẫn dựa chủ yếu vào các hộ nông dân quy mô nhỏ, phân tán. Vì vậy, để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung và đáp ứng yêu cầu của thị trường, cần có một chủ thể đủ năng lực tập hợp, tổ chức và điều phối sản xuất.

Trong bối cảnh đó, hợp tác xã nông nghiệp tiếp tục được xác định là mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị. Không chỉ là cầu nối giữa nông dân với doanh nghiệp, hợp tác xã còn đóng vai trò tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Dự thảo Nghị định đã dành nhiều nội dung nhằm nâng cao năng lực của các tổ chức kinh tế tập thể. Các tiêu chí về tỷ lệ thành viên tham gia liên kết, trình độ cán bộ quản lý, năng lực tổ chức sản xuất và quản trị chuỗi được quy định theo hướng cụ thể, định lượng. Điều này cho thấy định hướng xuyên suốt của Nhà nước là phát triển kinh tế tập thể trở thành nền tảng quan trọng trong xây dựng các chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại và bền vững.

Xanh hóa, số hóa và trao quyền cho cơ sở

Một điểm nhấn quan trọng khác của dự thảo là hệ thống tiêu chí phát triển vùng nguyên liệu. Nếu như trước đây các tiêu chí chủ yếu tập trung vào quy mô diện tích thì nay đã chuyển mạnh sang các yêu cầu về chất lượng, hạ tầng và khả năng quản trị.

Các vùng nguyên liệu không chỉ phải đáp ứng yêu cầu về quy mô sản xuất mà còn phải được đầu tư đồng bộ về giao thông nội đồng, thủy lợi, cơ sở bảo quản, logistics và cơ giới hóa. Đồng thời, dự thảo khuyến khích ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng nguyên liệu thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, giám sát sản xuất và kết nối thị trường.

Đặc biệt, các tiêu chí liên quan đến giảm phát thải khí nhà kính, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, sử dụng tài nguyên hiệu quả và tham gia thị trường carbon đã được đề cập như những định hướng quan trọng cho tương lai. Đây là bước chuẩn bị cần thiết để nông nghiệp Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Một trong những yếu tố quyết định thành công của chính sách là khả năng triển khai trong thực tiễn. Dự thảo Nghị định đã thể hiện rõ tinh thần phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương trong việc tổ chức và quản lý các chương trình liên kết chuỗi giá trị.

Theo đó, chính quyền cấp tỉnh giữ vai trò định hướng, ban hành cơ chế hỗ trợ, bố trí nguồn lực và phê duyệt các dự án quy mô lớn. Trong khi đó, chính quyền cấp xã được giao nhiều thẩm quyền hơn trong việc xem xét, phê duyệt và giám sát các dự án liên kết trên địa bàn.

Việc phân cấp này không chỉ góp phần rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính mà còn giúp các chính sách hỗ trợ đến gần hơn với người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Đồng thời, cơ chế kiểm tra, giám sát và hậu kiểm cũng được tăng cường nhằm bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả trong sử dụng nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước.

Dự thảo Nghị định xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ tương đối toàn diện, bao phủ từ khâu chuẩn bị đầu tư, tổ chức sản xuất đến quản trị rủi ro và phát triển thị trường. Các nội dung hỗ trợ tư vấn, chuyển giao công nghệ, đầu tư hạ tầng, cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ số, bảo hiểm nông nghiệp và quản lý rủi ro được thiết kế theo hướng đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia chuỗi liên kết.

Đây là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp hiện đại, bởi một chuỗi giá trị bền vững không chỉ cần liên kết tiêu thụ sản phẩm mà còn phải có khả năng thích ứng trước những biến động của thị trường, thiên tai, dịch bệnh và các yêu cầu mới về môi trường.

Có thể khẳng định rằng, Dự thảo Nghị định về phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững không chỉ là một văn bản quy phạm pháp luật mà còn là định hướng chiến lược cho quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới.

Khi được ban hành và triển khai đồng bộ cùng các cơ chế, chính sách của địa phương, nghị định sẽ tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị. Qua đó hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam, gia tăng thu nhập cho người sản xuất và từng bước xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, hiệu quả và phát triển bền vững.

Nguyễn Văn Tuấn

Phó Trưởng Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh Hà Tĩnh

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/hoan-thien-the-che-cho-lien-ket-chuoi-gia-tri-nong-nghiep.html