Triển khai Nghị quyết 80: Để văn hóa trở thành động lực phát triển của đất nước: Bài 3: Khai thông điểm nghẽn từ chính sách đến thực tiễn

Khi xây dựng tầm nhìn xuyên suốt trong sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong nhiều năm gần đây, đặc biệt là quan điểm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hay định hướng phát triển công nghiệp văn hóa, có thể thấy mục tiêu cốt lõi không phải là tổ chức nhiều hoạt động văn hóa hơn, mà là xây dựng con người Việt Nam, xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực xã hội. Văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển.

Văn hóa định hình tương lai xã hội

Về mặt tư tưởng chính sách, hướng đi thực chất là xây dựng nền văn hóa. Tuy nhiên, khi chuyển từ cấp chiến lược xuống cấp thực thi, một hiện tượng rất phổ biến xuất hiện: những mục tiêu dài hạn và khó đo lường thường bị thay thế bởi các chỉ tiêu ngắn hạn và dễ đo lường. Ví dụ, rất khó để trả lời chính xác rằng sau 5 năm, một địa phương đã làm tăng bao nhiêu phần trăm tinh thần trách nhiệm công dân, hay đã cải thiện được bao nhiêu mức độ trung thực trong xã hội. Nhưng lại rất dễ thống kê số lượng lễ hội đã tổ chức, số lượng người tham gia, số lượng câu lạc bộ văn hóa được thành lập, số lượng tin bài truyền thông được đăng tải.

Do đó, hệ thống quản lý tự nhiên có xu hướng dịch chuyển từ mục tiêu "xây dựng giá trị” sang mục tiêu "tạo ra hoạt động". Đây không hẳn là lỗi của một cơ quan hay một cá nhân nào, mà là hạn chế mang tính cấu trúc, bởi xây dựng văn hóa có 3 đặc điểm rất khó khăn. Thứ nhất, hiệu quả xuất hiện rất chậm. Một công trình giao thông có thể nhìn thấy sau vài năm. Một khu công nghiệp có thể đo bằng sản lượng và doanh thu. Nhưng một giá trị văn hóa có khi phải mất một hoặc hai thế hệ mới tạo ra kết quả rõ ràng. Thứ hai, kết quả rất khó định lượng. Kinh tế có GDP, đầu tư có tỷ lệ giải ngân, giao thông có số kilomet đường... Nhưng văn hóa không có một chỉ số đơn giản nào để đo mức độ tử tế, tinh thần cộng đồng, trách nhiệm xã hội hay lòng tự hào dân tộc. Khi không đo được kết quả cuối cùng, hệ thống thường chuyển sang đo những thứ ở giữa, tức là số lượng hoạt động.

Người dân háo hức tham gia Lễ hội trái cây tại TPHCM

Người dân háo hức tham gia Lễ hội trái cây tại TPHCM

Thứ ba, văn hóa là lĩnh vực liên ngành. Một giá trị văn hóa không được hình thành bởi riêng ngành văn hóa. Nó được hình thành đồng thời bởi giáo dục, truyền thông, quy hoạch đô thị, môi trường sống, pháp luật, doanh nghiệp, gia đình và cộng đồng. Trong khi đó, cơ cấu quản lý Nhà nước lại được phân chia theo ngành. Vì vậy, ngành văn hóa thường chỉ có thể kiểm soát được phần hoạt động văn hóa, còn những yếu tố quyết định hành vi xã hội lại nằm ở nhiều lĩnh vực khác.

Đó là lý do vì sao nhiều chính sách văn hóa đúng về định hướng nhưng khi triển khai lại bị thu hẹp thành các chương trình tuyên truyền, phong trào hoặc sự kiện. Nếu nhìn sâu hơn, có thể thấy Việt Nam hiện nay đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp giữa hai mô hình phát triển văn hóa. Mô hình thứ nhất là văn hóa như hoạt động. Trọng tâm là lễ hội, phong trào, biểu diễn, truyền thông, tuyên truyền và các chương trình vận động xã hội. Mô hình thứ hai là văn hóa như hạ tầng phát triển con người. Trọng tâm là hệ giá trị, chất lượng môi trường sống, thiết chế cộng đồng, giáo dục công dân, văn hóa công vụ, văn hóa doanh nghiệp và các chuẩn mực xã hội.

Nói cách khác, câu hỏi lớn của giai đoạn tới không phải là "làm thêm hoạt động văn hóa gì”, mà là "làm thế nào để mỗi chính sách giáo dục, mỗi khu dân cư, mỗi công sở, mỗi doanh nghiệp và mỗi không gian công cộng đều trở thành môi trường sản sinh văn hóa". Khi trả lời được câu hỏi đó, văn hóa mới thực sự chuyển từ lĩnh vực tổ chức sự kiện sang vai trò kiến tạo con người và định hình tương lai xã hội.

Kiến tạo giá trị sức sống mới

Khoảng trống lớn nhất trong tư duy văn hóa hiện nay, đó là chúng ta nói nhiều về bản sắc, nhưng lại ít nghiên cứu bản sắc theo phương pháp so sánh toàn cầu. Chúng ta biết khá rõ mình đã trải qua những cuộc chiến nào, có những triều đại nào, những lễ hội nào, những di sản nào, nhưng lại chưa biết rõ vị thế văn hóa của mình trong tương quan với các nền văn minh khác. Chúng ta biết mình khác người khác ở đâu về hình thức, nhưng chưa biết mình khác người khác ở đâu về giá trị cốt lõi. Một quốc gia chỉ có thể xây dựng chiến lược văn hóa dài hạn khi hiểu được giá trị so sánh của mình. Trong kinh tế có khái niệm lợi thế so sánh. Trong văn hóa cũng vậy. Không phải dân tộc nào cũng cần giống nhau. Mỗi dân tộc cần tìm ra những giá trị mà mình có khả năng phát triển tốt nhất và có ý nghĩa đối với thế giới.

Lễ hội văn hóa sông nước Cần Thơ

Lễ hội văn hóa sông nước Cần Thơ

Có thể chỉ ra ba sai lầm mang tính hệ thống trong nhận thức hiện nay. Thiếu sót thứ nhất: Đồng nhất công nghiệp văn hóa với hoạt động văn hóa. Đây có lẽ là sai lầm lớn nhất. Rất nhiều địa phương và cơ quan hiện nay vẫn xem công nghiệp văn hóa là tổ chức lễ hội, chương trình nghệ thuật, tuần văn hóa, triển lãm, hội chợ, sự kiện quảng bá hoặc các hoạt động kỷ niệm. Điều này dẫn đến tư duy đánh giá thành công bằng số lượng sự kiện, số lượng người tham gia, số lượng tin bài truyền thông hoặc mức độ hoành tráng của chương trình. Nhưng công nghiệp văn hóa thực chất không phải là ngành tổ chức sự kiện.

Bản chất của công nghiệp văn hóa là tạo ra các sản phẩm văn hóa có khả năng lan tỏa, được tiêu dùng, được tái sản xuất và tạo ra giá trị kinh tế lâu dài. Một nền công nghiệp văn hóa đúng nghĩa phải để lại các sản phẩm có khả năng tiếp tục tạo ra giá trị trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên sau đó. Chúng ta đang đầu tư quá nhiều cho phần "trình diễn" mà đầu tư chưa tương xứng cho phần "sản xuất".

Thiếu sót thứ hai: Xem văn hóa là đối tượng cần bảo tồn thay vì nguồn lực cần phát triển. Đây là một tư duy rất phổ biến. Phần lớn các chiến lược văn hóa hiện nay đều xoay quanh việc giữ gìn, bảo vệ, bảo tồn, phục dựng và phát huy di sản. Những việc này là cần thiết. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì văn hóa sẽ bị đóng khung trong quá khứ. Một nền văn hóa sống không tồn tại nhờ những gì được lưu giữ trong bảo tàng. Nó tồn tại nhờ những gì đang được sáng tạo mỗi ngày. Chúng ta thường đặt câu hỏi: "Làm sao giữ được văn hóa truyền thống?". Trong khi đáng lẽ phải hỏi thêm: "Từ văn hóa truyền thống đó, chúng ta tạo ra được điều gì mới cho thế giới hôm nay?". Sự khác biệt nằm ở đó. Nếu chỉ bảo tồn, văn hóa sẽ dần trở thành ký ức. Nếu biết sáng tạo trên nền tảng truyền thống, văn hóa sẽ trở thành nguồn lực phát triển.

Lễ hội Cồng chiêng Tây Nguyên

Lễ hội Cồng chiêng Tây Nguyên

Thiếu sót thứ ba: Không xác định được giá trị độc đáo của Việt Nam trong hệ quy chiếu toàn cầu. Đây là khoảng trống nguy hiểm nhất. Hiện nay chúng ta nói rất nhiều về bản sắc dân tộc, nhưng lại chưa trả lời rõ ràng được: Việt Nam đóng góp điều gì riêng cho nhân loại? Người Việt làm tốt điều gì hơn phần còn lại của thế giới? Triết lý sống nào của Việt Nam có thể trở thành giá trị phổ quát? Mô hình xã hội nào của Việt Nam có thể được thế giới học hỏi? Đô thị Việt Nam khác gì đô thị châu Âu? Lối sống Việt Nam khác gì lối sống Đông Á?

Nó phải phát triển từ những giá trị độc đáo có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Muốn bán được một sản phẩm văn hóa cho thế giới, trước hết phải biết mình khác thế giới ở đâu. Hiện nay, chúng ta thường bắt đầu từ câu chuyện lịch sử. Trong khi các quốc gia thành công về văn hóa thường bắt đầu từ câu chuyện tương lai. Họ tự hỏi: "Thế giới đang cần điều gì?", "Chúng ta có gì để đóng góp?", "Giá trị nào của chúng ta có thể trở thành giá trị toàn cầu?"... Đó mới là tư duy công nghiệp văn hóa.

Nhìn tổng thể, điểm yếu lớn nhất của công nghiệp văn hóa Việt Nam không phải là thiếu tiền, thiếu chính sách hay thiếu sự nhiệt tình. Điểm yếu lớn nhất là chúng ta vẫn đang nhìn văn hóa như một đối tượng cần được tổ chức, quản lý và quảng bá. Trong khi bản chất của công nghiệp văn hóa là phải tạo ra những giá trị sống mới, những sản phẩm mới, những câu chuyện mới và những hình mẫu mới cho xã hội.

THUẬN NAM - DUY LUÂN

Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/tin-chinh/bai-3-khai-thong-diem-nghen-tu-chinh-sach-den-thuc-tien_194215.html