Hoàn thiện thể chế ngân hàng, tạo động lực phát triển kinh tế và an toàn hệ thống
Chiều nay (6/8), Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng. Các đại biểu Quốc hội đã đánh giá toàn diện dự án Luật nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực và thiết lập lá chắn pháp lý vững chắc.

Các đại biểu thảo luận tại tổ chiều 6/8 (Ảnh: VPQH)
Kiến tạo cơ chế tài chính linh hoạt và chủ quyền tiền tệ
Phát biểu tại phiên thảo luận tổ, đại biểu Lê Thị Thúy Sen (Đoàn Hưng Yên) đánh giá cao sự chuẩn bị công phu, cầu thị của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước khi kịp thời trình dự án luật tại kỳ họp này để tháo gỡ vướng mắc, phục vụ tăng trưởng hai con số. Đồng tình với nguyên tắc cấm sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ nhằm bảo vệ chủ quyền tiền tệ, đại biểu Lê Thị Thúy Sen đề xuất áp dụng nguyên tắc “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Theo đó, luật nên giao Thống đốc quy định cụ thể các trường hợp ngoại lệ để ứng phó linh hoạt trước các biến động thực tế, đồng thời bảo đảm luật hóa phù hợp Hiến pháp.
Cùng quan điểm này, đại biểu Đỗ Đức Hiển (Đoàn TP. Hồ Chí Minh) nhất trí luật hóa cấm quảng cáo ngoại tệ tại Điều 31A nhưng đề xuất bãi bỏ quy định tương tự trong Pháp lệnh Ngoại hối. Về Điều 45 cho phép bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu năm trước, ông đề nghị đánh giá kỹ số liệu để thống nhất với Luật Ngân sách nhà nước hợp nhất.
Đại biểu Dương Minh Tuấn (Đoàn TP. Hồ Chí Minh) lo ngại khoản bù này nếu quá lớn sẽ giảm thu ngân sách, ảnh hưởng đầu tư công và việc thực hiện Nghị quyết 26 năm 2026. Ông kiến nghị ban soạn thảo cân nhắc kỹ quy định này để bảo toàn nguồn thu ngân sách theo Kết luận 18 của Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, đồng thời đề nghị sửa Điều 16 bỏ quy định hào, xu không còn lưu hành thực tế.
Quy định cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác tại Điều 59 được các đại biểu ủng hộ mạnh mẽ. Đại biểu Lê Thị Thúy Sen dẫn chứng thông tư ngày 1/7/2026 của Thống đốc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lên 40% đã giảm áp lực lớn cho các tổ chức tín dụng. Đại biểu Nguyễn Thanh Tùng (Đoàn TP. Hồ Chí Minh) thì phân tích rằng các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc có vốn chủ sở hữu bị âm không thể vận hành nếu áp dụng cứng nhắc giới hạn tín dụng thông thường, vì vậy rất cần cơ chế linh hoạt này từ Ngân hàng Nhà nước để xử lý kịp thời rủi ro thanh khoản khẩn cấp.

ĐBQH Lê Thị Thúy Sen (Hưng Yên) phát biểu thảo luận tại Tổ 5
Đại lý tài sản bảo đảm - Trụ cột khơi thông thị trường vốn
Một điểm sáng nhận được sự đồng thuận cao là quy định cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp tại Điều 3. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà (Đoàn TP. Hà Nội) khẳng định ban soạn thảo đã chuẩn bị nghiêm túc, công phu và cầu thị. Ông đánh giá nghiệp vụ này là giải pháp then chốt để thiết lập lại kỷ cương cho thị trường vốn, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và phân định rõ trách nhiệm khi xảy ra vỡ nợ. Với năng lực định giá và xử lý tài sản thế chấp tốt nhất, ngân hàng tham gia làm đại lý sẽ giám sát chặt chẽ tài sản bảo đảm như bất động sản, cổ phần, loại bỏ hoàn toàn việc tẩu tán tài sản của doanh nghiệp phát hành.
Nhìn dưới góc độ cân đối nguồn vốn vĩ mô, đại biểu Nguyễn Thanh Tùng (Đoàn TP. Hồ Chí Minh) cung cấp số liệu thực tế: Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm 10% GDP, quá thấp so với Thái Lan (23%), Malaysia (53%) hay Trung Quốc (38%), trong khi dư nợ tín dụng ngân hàng lên tới 145% GDP. Sự lệch pha này khiến hệ thống ngân hàng phải gánh trách nhiệm cho vay trung và dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn. Việc cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm là bất động sản – điều công ty chứng khoán không được phép thực hiện – sẽ tháo gỡ nghẽn lòng tin, khơi thông kênh phát hành trái phiếu phát triển.
Ủng hộ việc mở rộng quyền hoạt động cho cả trái phiếu chào bán ra công chúng, đại biểu Vũ Hồng Quân (Đoàn Gia Lai) nhấn mạnh, quy định giúp hệ thống ngân hàng trở thành hạ tầng thị trường vốn, giảm áp lực lên tín dụng. Tuy nhiên, ông đề xuất ban soạn thảo hoàn thiện khung trách nhiệm tương xứng để bảo vệ hệ thống trước nguy cơ người dân nhầm lẫn vai trò đại lý tài sản với bảo lãnh thanh toán khi doanh nghiệp phát hành vỡ nợ.
Đại biểu Vũ Hồng Quân kiến nghị: Một là, luật hóa nguyên tắc hoạt động này không phát sinh nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng; hai là, kiểm soát chặt chẽ xung đột lợi ích khi ngân hàng vừa là chủ nợ vừa làm đại lý tài sản; ba là, làm rõ cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán và Ngân hàng Nhà nước.
Lá chắn công nghệ phòng, chống rửa tiền toàn diện
Sự bùng nổ của tài sản mã hóa đặt ra yêu cầu cấp bách hoàn thiện Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo vệ an ninh quốc gia. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà ấn tượng trước việc đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm đối tượng báo cáo phi tài chính và xây dựng các dấu hiệu đáng ngờ đặc thù tại Điều 33A. Ông phân tích: công nghệ blockchain đã biến tài sản mã hóa thành kênh chuyển tiền xuyên biên giới phức tạp, dễ bị tội phạm lợi dụng để rửa tiền, trốn thuế. Việc bổ sung này đáp ứng trực tiếp Khuyến nghị 15 của FATF, hỗ trợ đắc lực để đưa Việt Nam ra khỏi danh sách xám. Những dấu hiệu định lượng tại Điều 33A giúp các tổ chức tín dụng dễ dàng rà soát tự động, báo cáo kịp thời lên Ngân hàng Nhà nước.
Nêu rõ thực tế điều hành, đại biểu Nguyễn Thanh Tùng chỉ ra bốn thách thức của ngân hàng gồm: nhận diện rủi ro dòng tiền siêu tốc; công nghệ ẩn danh thay đổi liên tục; mâu thuẫn giữa kiểm soát rủi ro và trải nghiệm khách hàng; và sự phối hợp liên ngành. Để giải quyết, các đại biểu đề nghị hoàn thiện cơ chế chia sẻ, kết nối dữ liệu rủi ro tự động giữa Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Hải quan, Thuế và tổ chức tín dụng. Đại biểu Nguyễn Đặng Ân (Đoàn Lạng Sơn) bổ sung lập luận rằng, với tỉnh biên giới như Lạng Sơn, hoàn thiện khuôn khổ này có ý nghĩa quan trọng để kiểm soát thanh toán qua mã QR, thương mại điện tử xuyên biên giới và dòng tiền logistics, giúp phòng chống gian lận thương mại hữu hiệu.
Để nâng cao tính thực chiến của luật, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà chỉ ra bất cập trong định nghĩa chủ sở hữu hưởng lợi tại khoản 7 Điều 3 khi dự thảo quy định quyền kiểm soát toàn diện trên thực tế. Ông đề nghị thay thế từ toàn diện bằng từ cuối cùng để bảo đảm thống nhất với khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 66/2026/NQ-CP của Chính phủ ban hành tháng 7/2026 và phù hợp chuẩn mực quốc tế.
Ông phân tích: Đối tượng rửa tiền chỉ cần sở hữu từ 25% vốn hoặc thông qua thỏa thuận ngầm là đã nắm quyền kiểm soát thực tế; nếu giữ từ toàn diện, đối tượng sẽ dễ dàng chia nhỏ tỷ lệ sở hữu nhằm né tránh sự nhận diện của cơ quan chức năng…













