Hội chợ Mùa Xuân 2026: Nón lá - mang dáng vóc tảo tần từ quê ra phố
Những chiếc nón truyền thống đến từ nhiều vùng miền đã cùng hội tụ giữa không gian rộn ràng của Hội chợ Mùa Xuân 2026, tạo nên một bức tranh văn hóa đậm đà bản sắc Việt.

Không gian trưng bày của Nón làng Chuông (Hà Nội) tại Hội chợ Mùa Xuân 2026. Ảnh: Hạnh Quyên - TTXVN
Từ nón lá làng Chuông bên dòng sông Đáy, nón ba tầm Kinh Bắc đến nón bài thơ xứ Huế, mỗi sản phẩm không chỉ là vật dụng sinh hoạt quen thuộc mà còn là kết tinh của lịch sử, lao động thủ công và tâm hồn của từng vùng đất.

Nghệ nhân nón Làng Chuông Tạ Thu Hương thực hiện làm nón lá tại không gian "Tết sum vầy". Ảnh: Khánh Hòa - TTXVN
*Ngọn lửa nghề bền bỉ cháy
Giữa không gian làng quê ven sông Đáy, nơi nhịp sống chậm rãi và yên bình, làng Chuông vẫn kiên trì gìn giữ nghề làm nón lá – một nghề truyền thống đã ăn sâu vào đời sống văn hóa của người Việt. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, từ vật dụng che nắng, che mưa giản dị, chiếc nón lá nơi đây dần trở thành biểu tượng văn hóa, kết tinh sự khéo léo và tâm huyết của nhiều thế hệ thợ thủ công. Trong bối cảnh hiện đại hóa, làng Chuông không chỉ giữ nghề mà còn chủ động tìm hướng phát triển mới, gắn nghề nón với du lịch trải nghiệm và quảng bá văn hóa, để “ngọn lửa nghề” tiếp tục được thắp sáng.
Theo chị Lê Thị Hà Phương, người gắn bó lâu năm với nghề làm nón ở làng Chuông, hiện nay làng có hàng trăm hộ sản xuất, tạo việc làm thường xuyên cho hơn 1.000 lao động. Trước đây, nón chủ yếu phục vụ nhu cầu lao động nông nghiệp nên hiệu quả kinh tế chưa cao. Tuy nhiên, những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, các sản phẩm mang giá trị văn hóa, truyền thống ngày càng được ưa chuộng, mở ra cơ hội để người dân nâng cao chất lượng, đa dạng hóa mẫu mã và tiếp cận thị trường rộng lớn hơn.
Hiện nay, nón làng Chuông không chỉ xuất hiện ở khu vực nông thôn mà còn có mặt tại các đô thị và vươn ra thị trường quốc tế. Các sản phẩm ngày càng phong phú, từ nón in hoa văn dành cho du khách, nón cô dâu, nón quai thao cho liền chị quan họ, nón dành cho nhà sư đến các loại nón phục vụ du lịch với họa tiết in hoặc vẽ tay. Giá nón phổ thông dao động từ 50.000–70.000 đồng/chiếc; các loại nón có mẫu mã cầu kỳ, kích cỡ lớn có giá từ 250.000–300.000 đồng/chiếc. Nghề làm nón còn tận dụng hiệu quả lao động nông nhàn, tạo việc làm cho người cao tuổi, trẻ em và cả lao động ở các địa phương lân cận, với thu nhập trung bình khoảng 150.000–300.000 đồng/người/ngày.
Tham gia Hội chợ Mùa Xuân 2026, gia đình chị Lê Thị Hà Phương không chỉ mong muốn tiêu thụ sản phẩm mà còn kỳ vọng quảng bá rộng rãi nghề làm nón truyền thống của làng Chuông. Thông qua mỗi chiếc nón, chị mong truyền tải những giá trị văn hóa lâu đời, sự tỉ mỉ và tâm huyết của người thợ, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về việc gìn giữ và phát triển nghề truyền thống, đồng thời khơi dậy niềm tự hào, trách nhiệm của thế hệ trẻ với quê hương.
Ngắm nhìn những chiếc nón tại hội chợ, cô Đỗ Thị Giang (phường Định Công, Hà Nội) chia sẻ: “Với tôi, nón lá làng Chuông đẹp ở sự mộc mạc và tinh tế. Mỗi lớp lá cọ trắng ngà như lưu giữ ký ức làng quê Bắc Bộ – nơi có bến sông, hàng tre, bóng dáng người mẹ, người bà tảo tần năm xưa. Đội chiếc nón ấy, tôi có cảm giác như mang theo một phần hồn quê Việt, rất dịu dàng và bình yên”.

Khách tham quan trang trí nón lá tại hội chợ. Ảnh: Hạnh Quyên-TTXVN
*Từ lá cọ mộc mạc đến hồn quê sâu lắng
Theo nhiều tư liệu dân gian, nghề làm nón ở làng Chuông đã xuất hiện từ rất sớm. Xưa kia, làng nổi tiếng khắp vùng với những chiếc nón bền, nhẹ, dáng đẹp, phục vụ nhiều tầng lớp trong xã hội. Tiếng tăm ấy được lưu truyền qua câu ca dao quen thuộc:“Muốn ăn cơm trắng cá trê/Muốn đội nón tốt thì về làng Chuông.”
Không chỉ mang lại sinh kế, nghề làm nón còn góp phần định hình bản sắc văn hóa của làng quê ven sông Đáy. Chiếc nón lá gắn liền với tà áo dài, với chợ quê, hội làng và những ký ức bình dị của đời sống nông thôn Bắc Bộ. Hình ảnh người con gái Việt dịu dàng đội nón lá đã trở thành biểu trưng cho vẻ đẹp tảo tần, kín đáo và duyên thầm qua năm tháng.
Chị Nguyễn Thị Tuyến (huyện Sóc Sơn, Hà Nội) cho rằng, mỗi chiếc nón Chuông tại hội chợ đều mang theo câu chuyện hàng trăm năm của làng nghề. Không chỉ là vật dụng che nắng, che mưa, nón lá còn là cầu nối giới thiệu văn hóa Việt Nam và lối sống xanh, thân thiện với môi trường. Thông qua trải nghiệm làm nón, du khách có thể cảm nhận sự khéo léo của người thợ và hiểu hơn về giá trị bền vững của các nghề thủ công truyền thống.
Để hoàn thiện một chiếc nón đẹp, người thợ bắt đầu từ những vật liệu mộc mạc nhất. Lá cọ được chọn lọc kỹ, phơi, hong, sấy nhiều lần để đạt độ dẻo và màu trắng tự nhiên. Nan tre được chẻ mỏng, đan đều thành từng vành tròn, tạo nên dáng nón thanh thoát nhưng chắc chắn. Từng lớp lá được xếp khít, từng mũi kim nhỏ đều, giấu kín dưới lớp lá mỏng manh, đòi hỏi sự kiên nhẫn và con mắt tinh tường. Chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến dáng và độ bền của nón.
*Duyên thầm Kinh Bắc, Cố đô tái hiện
Tại khu trưng bày của tỉnh Bắc Ninh trong khuôn khổ hội chợ, nón ba tầm được các liền anh, liền chị mang đến như một điểm nhấn văn hóa đặc sắc. Không rực rỡ sắc màu, không cầu kỳ hình thức, nón ba tầm chinh phục người xem bằng vẻ đẹp mộc mạc, hài hòa, gợi nhắc không gian văn hóa Kinh Bắc xưa.
Nón ba tầm gắn liền với đời sống người phụ nữ Bắc Bộ, đặc biệt phổ biến ở Bắc Ninh. Hình ảnh nón vành rộng đã xuất hiện từ lâu đời cho thấy sự gắn bó lâu đời của chiếc nón với nền văn minh lúa nước. Không chỉ là vật dụng sinh hoạt, nón ba tầm còn là biểu tượng cho vẻ đẹp lao động và đức tính cần cù của người phụ nữ Kinh Bắc.
Cùng với đó, nón Huế hay còn gọi là nón bài thơ cũng hiện diện tại các chương trình giới thiệu quảng bá hội chợ như biểu trưng cho vẻ đẹp thanh tao của văn hóa Cố đô. Được làm từ lá nón trắng mịn, khung tre mảnh và những mũi khâu tinh xảo, nón Huế nổi bật bởi sự nhẹ nhàng, thanh thoát. Ẩn giữa hai lớp lá là những câu thơ, hình ảnh sông Hương, núi Ngự hiện lên khi soi nắng, tạo nên nét duyên thầm rất riêng, góp phần làm giàu thêm bức tranh văn hóa Việt tại Hội chợ Mùa Xuân 2026. Nón Huế được người mua ưa chuộng không chỉ để làm một vật dụng che nắng, che mưa mà còn như một tác phẩm nghệ thuật - một lời nhắn nhủ gửi gắn ẩn hiện sau bức tranh, câu thơ chìm giữa hai lớp lá.
Giữa dòng chảy hối hả của đời sống hiện đại, chiếc nón lá vẫn lặng lẽ hiện diện như một biểu tượng bền bỉ của văn hóa Việt. Từ lá cọ mộc mạc, nan tre giản dị và đôi bàn tay cần mẫn của người thợ, những chiếc nón truyền thống như một món quà mà người dân địa phương muốn gửi trao với ước vọng mong bạn đồng hành bớt phần mưa nắng dãi dầu, nhẹ nhàng thả bước qua bốn mùa nhân gian .











