Hơn 3 triệu ha rừng 'không chủ': Điểm nghẽn của xuất khẩu xanh và thị trường carbon
Khoảng 3,07 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp hiện do UBND cấp xã quản lý đang bộc lộ nhiều bất cập về pháp lý, dữ liệu và nguồn lực quản lý. Không chỉ làm gia tăng nguy cơ lấn chiếm, suy thoái rừng, thực trạng này còn có thể trở thành rào cản đối với xuất khẩu nông lâm sản vào các thị trường đòi hỏi truy xuất nguồn gốc nghiêm ngặt, đồng thời làm chậm cơ hội tham gia thị trường tín chỉ carbon của Việt Nam.
Như Khoảng trống quản lý trên hơn 3 triệu ha rừng
Theo số liệu hiện trạng rừng năm 2025, cả nước có khoảng 3,07 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp chưa giao, chưa cho thuê, hiện do UBND cấp xã quản lý, chiếm hơn 20,5% tổng diện tích rừng quốc gia.
Tại Hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp do UBND cấp xã quản lý” do Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (VIESARD) phối hợp cùng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và Tổ chức Forest Trends tổ chức mới đây, các chuyên gia cho rằng đây là quỹ đất rất lớn nhưng đang tồn tại nhiều bất cập kéo dài. Mặc dù được giao trách nhiệm quản lý, song cấp xã chưa được xác lập đầy đủ địa vị pháp lý như một chủ rừng thực sự, dẫn đến tình trạng “quản lý nhưng thiếu quyền và thiếu nguồn lực”.
Khảo sát tại nhiều địa phương cho thấy khoảng 81,5% diện tích hiện nay trên thực tế đã do người dân sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhiều hộ dân canh tác ổn định từ hàng chục năm trước nhưng vẫn chưa hoàn tất thủ tục giao đất, giao rừng hoặc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đáng chú ý, kết quả đối chiếu giữa hồ sơ quản lý và ảnh vệ tinh cho thấy có sự chênh lệch khoảng 4.400 ha tại một số địa phương. Nhiều diện tích trên hồ sơ vẫn là đất lâm nghiệp nhưng thực tế đã chuyển sang sản xuất nông nghiệp từ lâu.
Trong khi đó, nhiều xã đang quản lý hàng nghìn hecta rừng nhưng thiếu cán bộ chuyên môn, thiếu kinh phí và công cụ kỹ thuật phục vụ công tác bảo vệ rừng.

Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp do UBND cấp xã quản lý. Ảnh: minh họa
Nguy cơ ảnh hưởng xuất khẩu nông lâm sản
Theo các chuyên gia, những tồn tại trong quản lý đất rừng không chỉ là vấn đề nội tại của ngành lâm nghiệp mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu.
TS. Nguyễn Vinh Quang, chuyên gia của Forest Trends, cho biết Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) sẽ có hiệu lực từ cuối năm 2026. Theo đó, các sản phẩm như cà phê, gỗ và nhiều mặt hàng nông lâm sản phải chứng minh không gây mất rừng sau ngày 31/12/2020 và phải truy xuất được nguồn gốc đến từng lô đất sản xuất.
Tuy nhiên, khi ranh giới đất đai chưa rõ ràng, hồ sơ pháp lý chưa hoàn thiện và dữ liệu đất lâm nghiệp còn thiếu đồng bộ, nhiều sản phẩm được sản xuất trên diện tích đất do cấp xã quản lý sẽ gặp khó khăn trong việc đáp ứng yêu cầu của thị trường EU.
Thực tế tại nhiều địa phương Tây Nguyên cho thấy áp lực chuyển đổi đất rừng sang cây trồng có giá trị kinh tế cao như cà phê vẫn đang diễn ra. Đây là thách thức lớn trong bối cảnh Việt Nam ngày càng phải đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững và truy xuất nguồn gốc của thị trường quốc tế.

Giao đất, giao rừng để đảm bảo lâm nghiệp phát triển bền vững. Ảnh minh họa
Đẩy nhanh giao đất, giao rừng để khai mở thị trường carbon
Bên cạnh xuất khẩu xanh, việc chậm hoàn thiện hồ sơ pháp lý đối với diện tích rừng do cấp xã quản lý cũng đang làm giảm cơ hội tham gia thị trường tín chỉ carbon.
Hiện hơn 20% diện tích rừng cả nước nằm trong nhóm này, trong đó nhiều khu vực có tiềm năng hấp thụ và lưu trữ carbon đáng kể. Tuy nhiên, các dự án carbon đòi hỏi phải xác định rõ chủ thể quản lý, ranh giới diện tích và cơ chế hưởng lợi. Đây lại là những điểm còn nhiều vướng mắc hiện nay.
Các chuyên gia cho rằng giải pháp căn cơ nhất là đẩy nhanh quá trình giao đất, giao rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng có nhu cầu sử dụng thực sự; chỉ giữ lại cho cấp xã quản lý những diện tích đặc thù không thể giao cho chủ thể khác.
Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai và tài nguyên rừng, đồng bộ hóa các quy định của Luật Đất đai và Luật Lâm nghiệp, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý và giám sát rừng.
Theo các chuyên gia, khi rừng có chủ thể quản lý rõ ràng, quyền lợi gắn với trách nhiệm và dữ liệu được minh bạch hóa, Việt Nam không chỉ nâng cao hiệu quả bảo vệ tài nguyên rừng mà còn tận dụng tốt hơn các cơ hội từ xuất khẩu xanh, thị trường carbon và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
ThS. Bùi Giang Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đề xuất nhóm giải pháp trọng tâm, trong đó nhấn mạnh cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, đồng bộ hóa các quy định của Luật Lâm nghiệp và Luật Đất đai nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn kéo dài liên quan đến quản lý đất rừng, xử lý chồng lấn ranh giới và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện để phát triển các mô hình kinh tế dưới tán rừng, lâm sản ngoài gỗ, dược liệu, du lịch sinh thái và thị trường tín chỉ carbon nhằm nâng cao giá trị kinh tế của rừng.











