Khả năng tiếp cận bài học của học sinh miền núi: Tháo 'điểm nghẽn' từ thực tiễn
Từ thực tiễn 35 trường tiểu học thuộc Cụm chuyên môn số 13 (Sở GD&ĐT Đắk Lắk), nhiều nút thắt trong tiếp cận bài học của học sinh miền núi dần được nhận diện, từng bước tháo gỡ bằng những cách làm linh hoạt, sát thực tiễn lớp học.

Giờ học của cô và trò Trường Tiểu học Trần Quốc Toản (xã Ea Phê). Ảnh: TT
Điểm nghẽn từ lớp học vùng khó
Trong tiết học Khoa học lớp 5 tại Trường Tiểu học Nguyễn Trãi (Vụ Bổn, Đắk Lắk), khi giáo viên yêu cầu học sinh quan sát hình ảnh vòng tuần hoàn nước và giải thích hiện tượng, cả lớp chững lại vài giây.
Một cánh tay giơ lên. Câu trả lời ngắn: “Có mưa… nước bay lên ạ”.
Là “chủ nhân” của tiết dạy trên, thay vì nhận xét ngay cho câu trả lời ấy, cô giáo Hồ Thị Mai Thương hỏi tiếp: “Vì sao nước bay lên?”.
Lúc này, hầu hết học sinh lớp 5 của cô cúi xuống trong im lặng. “Các em hiểu, nhưng không nói được”, cô Thương chia sẻ sau giờ dạy và cho rằng, học sinh ở đây phần lớn là người dân tộc thiểu số, điều kiện sống còn khó khăn. Dù tiếp nhận kiến thức khá nhanh qua quan sát, nhưng khi chuyển sang diễn đạt bằng tiếng Việt, nhất là ngôn ngữ mang tính khái quát lại lúng túng.
Tương tự, ở môn Tiếng Việt, cô Nguyễn Hồng Huế - giáo viên Trường Tiểu học Phan Đình Phùng (xã Ea Kly) nhận thấy, nhiều học sinh còn hạn chế về phát âm, vốn từ và khả năng diễn đạt.
“Học sinh ngại nói vì sợ sai. Càng ít nói, càng ít cơ hội sửa. Vòng lặp này khiến việc tiếp cận bài học bị chậm lại”, cô Huế nhận định.
Trong khi đó, ở môn Toán, cô Phạm Thị Hiền - Trường Tiểu học Trần Quốc Toản (xã Ea Phê), lại nhìn vấn đề từ góc khác. “Nếu chỉ nhìn vào đáp số đúng hay sai thì rất nhanh. Nhưng nếu muốn biết học sinh nghĩ gì, làm thế nào để ra kết quả đó, cần thời gian và cách đánh giá khác”, cô Hiền chia sẻ.
Theo cô, nhiều học sinh có thể làm đúng bài, nhưng chưa chắc đã hiểu bản chất. Ngược lại, có em làm sai nhưng cách tư duy lại đúng hướng. “Điểm chung ở đây là việc tiếp cận bài học không chỉ là hiểu kiến thức, mà còn hiểu và thể hiện được quá trình học”, cô Hiền nói thêm.
Có thể thấy, khoảng lặng trong những lớp học ấy không phải là thiếu kiến thức. Đó là dấu hiệu của một “điểm nghẽn” khi học sinh chưa đi hết hành trình của bài học.
Thực tế ghi nhận trong các báo cáo chuyên đề từ 35 trường tiểu học thuộc Cụm chuyên môn số 13 (Sở GD&ĐT Đắk Lắk) cũng chỉ rõ, nhiều học sinh đã tích cực tham gia hoạt động học tập, nhưng kỹ năng trình bày, phân tích, vận dụng kiến thức còn hạn chế. “Nói cách khác, các em biết nhưng chưa thể hiện được một cách đầy đủ”, ông Trần Hải Đường - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nguyễn Trãi đánh giá.

Bà Lê Thị Việt - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng, Cụm trưởng Cụm chuyên môn số 13 (sở GD&ĐT) trao đổi chuyên đề đổi mới dạy học. Ảnh: TT
Giáo viên “loay hoay” chuyển đổi
Chương trình GDPT 2018 và Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT đặt ra yêu cầu chuyển từ đánh giá kiến thức sang năng lực, từ điểm số sang nhận xét quá trình. Tuy nhiên, thực tế triển khai tại các trường vùng khó còn nhiều vướng mắc.
Theo bà Lê Thị Việt - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng, Cụm trưởng Cụm chuyên môn số 13, một số giáo viên vẫn quen với cách kiểm tra truyền thống. Hình thức đánh giá chưa đa dạng. Việc xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực còn lúng túng. Hoạt động tự đánh giá của học sinh chưa hiệu quả.
Qua trao đổi, không ít thầy cô thừa nhận, việc thiết kế bảng kiểm, rubric (bảng tiêu chí đánh giá) hay theo dõi tiến bộ của từng học sinh trong lớp có sĩ số cao là áp lực không nhỏ. “Muốn đánh giá đúng năng lực học sinh phải quan sát quá trình, nhưng lớp đông, thời gian hạn chế, khó để làm trọn vẹn”, một giáo viên chia sẻ bên lề buổi sinh hoạt cụm.
Một trong những nguyên nhân cốt lõi được lãnh đạo các trường thuộc Cụm 13 chỉ ra, đặc thù của học sinh miền núi, nhất là học sinh dân tộc thiểu số, nhiều em nói tiếng mẹ đẻ từ nhỏ, tiếp xúc với tiếng Việt muộn. Điều này dẫn đến thiếu tự tin khi giao tiếp, hoạt động nhóm ở trường, lớp.
Trong khi đó, điều kiện dạy học ở đây dù được quan tâm, đầu tư nhưng vẫn hạn chế, thiếu học liệu trực quan, thiết bị hỗ trợ dạy học, một bộ phận giáo viên ứng dụng công nghệ chưa đồng đều. Đáng chú ý, một bộ phận phụ huynh quen với việc đánh giá bằng điểm số, chưa thực sự hiểu và đồng hành với đánh giá bằng nhận xét.
Những yếu tố này tạo thành “lực cản” vô hình, khiến việc tiếp cận bài học của học sinh chưa đạt như kỳ vọng.

Đội ngũ cán bộ, quản lý, giáo viên cốt cán thuộc 35 trường tiểu học thuộc Cụm chuyên môn số 13 (sở GD&ĐT) trao đổi chuyên đề đổi mới dạy học. Ảnh: TT
Nhìn thẳng để “gỡ khó”
Dẫu đóng chân ở địa bàn còn nhiều khó khăn, lãnh đạo các trường học thuộc Cụm 13 thẳng thắn nhìn nhận, việc duy trì trao đổi chuyên môn và sinh hoạt Cụm không chỉ đơn thuần là dịp báo cáo chuyên đề, mà còn trở thành diễn đàn thực chất để giáo viên chia sẻ những vướng mắc, khó khăn trong thực tế giảng dạy, từ đó cùng tìm hướng tháo gỡ.
Thực tế cho thấy, các bài dạy minh họa, tiết dạy chuyên đề hiện nay không còn dừng ở mức độ lý thuyết hay mang tính “biểu diễn”, mà đã đi sâu vào từng tình huống cụ thể trong lớp học, phản ánh rõ biểu hiện, năng lực và mức độ tiếp thu khác nhau của học sinh. Điều này giúp việc sinh hoạt chuyên môn sát với thực tiễn hơn, thay vì chỉ dừng ở trao đổi hình thức.
Là một trong những giáo viên cốt cán của trường và ngành, cô H’ Chia Niê - Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng (xã Krông Pắc) cho rằng “học liệu số” đang mở ra một hướng tiếp cận mới, giúp giáo viên có thêm công cụ trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học tại địa bàn còn nhiều hạn chế về điều kiện.
Theo cô, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong soạn giảng và xây dựng kho học liệu số không chỉ giúp giảm áp lực chuẩn bị bài giảng mà còn tạo điều kiện để giáo viên chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ lẫn nhau trong tổ chức dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh.
“Qua đó, giáo viên có thể điều chỉnh bài dạy sát hơn với thực tiễn từng trường, từng lớp, từng nhóm học sinh, góp phần phát huy tối đa phẩm chất và năng lực người học”, cô H’ Chia trao đổi.
Theo lãnh đạo Phòng Giáo dục Phổ thông, Sở GD&ĐT Đắk Lắk, việc nhìn thẳng vào những “điểm nghẽn” trong thực tiễn dạy học không nhằm mục đích chỉ ra hạn chế, mà quan trọng hơn là để cùng nhau tìm giải pháp tháo gỡ, cải thiện chất lượng giáo dục.
Từ những “khoảng lặng” trong lớp học, các vấn đề thực tiễn dạy học dần được nhận diện rõ hơn thông qua trao đổi, góp ý tại sinh hoạt Cụm chuyên môn. Đây cũng chính là tiền đề và động lực để đội ngũ giáo viên vùng khó từng bước thay đổi phương pháp dạy học, đổi mới cách đánh giá, qua đó giúp học sinh tiếp cận bài học hiệu quả hơn, sát với năng lực thực tế của mình.
Những “điểm nghẽn” trong tiếp cận bài học: Rào cản ngôn ngữ của học sinh dân tộc thiểu số; hạn chế kỹ năng diễn đạt, trình bày; giáo viên lúng túng trong đổi mới đánh giá; thiếu học liệu, thiết bị dạy học; phụ huynh chưa quen với cách đánh giá mới.












