Khai thác giá trị cổ kết cộng đồng của Lễ hội truyền thống nhằm tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay

Lễ hội truyền thống là một di sản văn hóa vô giá, nơi lưu giữ và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, trong đó nổi bật nhất là giá trị cố kết cộng đồng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, việc nhận diện và khai thác hiệu quả giá trị này không chỉ góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa mà còn là nguồn lực nội sinh to lớn để củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Lễ hội truyền thống là một di sản văn hóa vô giá, nơi lưu giữ và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, trong đó nổi bật nhất là giá trị cố kết cộng đồng

Lễ hội truyền thống là một di sản văn hóa vô giá, nơi lưu giữ và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, trong đó nổi bật nhất là giá trị cố kết cộng đồng

1. Đặt vấn đề

Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh vô địch quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW (ngày 07/01/2026) của Bộ Chính trị tiếp tục nhấn mạnh vai trò nền tảng của văn hóa truyền thống – coi đây là nguồn lực nội sinh then chốt để củng cố vững chắc khối đại đoàn kết này.Trong dòng chảy đó, lễ hội truyền thống đóng vai trò hạt nhân với giá trị cốt lõi là sự cố kết cộng đồng, giúp thắt chặt tình "đồng bào", xóa nhòa mọi khoảng cách xã hội và hướng con người đến các chuẩn mực chân - thiện - mỹ.

Tuy nhiên, dưới tác động của toàn cầu hóa và kinh tế thị trường, các hiện tượng "thương mại hóa", "hành chính hóa" đang làm suy giảm vai trò chủ thể của nhân dân, đe dọa làm phai nhạt tính thiêng và rạn nứt sự gắn kết cộng đồng. Trước thực trạng đó, bài viết tập trung phân tích giá trị cố kết cộng đồng của lễ hội truyền thống, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm bảo tồn, phát huy nguồn lực tinh thần này phục vụ chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay.

Trong hệ thống di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, lễ hội truyền thống chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng, được ví như tấm gương phản chiếu sinh động đời sống tinh thần, tâm linh và cốt cách của con người Việt Nam

Trong hệ thống di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, lễ hội truyền thống chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng, được ví như tấm gương phản chiếu sinh động đời sống tinh thần, tâm linh và cốt cách của con người Việt Nam

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Giá trị cố kết cộng đồng của lễ hội truyền thống Việt Nam

Trong hệ thống di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, lễ hội truyền thống chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng, được ví như tấm gương phản chiếu sinh động đời sống tinh thần, tâm linh và cốt cách của con người Việt Nam. Xét dưới góc độ xã hội học và văn hóa học, lễ hội không đơn thuần là những hoạt động vui chơi, giải trí mang tính thời vụ, mà là một thiết chế văn hóa đặc biệt, một chỉnh thể nguyên hợp chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc. Trong đó, giá trị cố kết cộng đồng chính là hạt nhân cốt lõi, là sợi dây vô hình nhưng bền chặt nhất gắn kết các thành viên trong xã hội, tạo nên bệ đỡ tinh thần vững chắc cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc qua mọi thời kỳ lịch sử. Giá trị cốt lõi này được thể hiện rõ nét qua ba phương diện cơ bản sau:

Thứ nhất, Thiết lập điểm tựa tâm linh chung và khơi dậy ý thức cội nguồn dân tộc

Bản chất trường tồn của lễ hội truyền thống Việt Nam trước hết được định hình bởi một tâm điểm tín ngưỡng cốt lõi, nơi cộng đồng cùng hướng về các "biểu tượng tập thể" thiêng liêng như các Anh hùng dân tộc, Thành hoàng làng hay các bậc tiền nhân khai cơ lập nghiệp [9]. Trong không gian linh thiêng của lễ hội, hành vi bái tế và ngưỡng vọng chung không đơn thuần là sự thỏa mãn nhu cầu tâm linh cá nhân, mà là một cơ chế xã hội đặc biệt giúp xóa nhòa các dị biệt thường nhật, đưa con người vào một trạng thái "cộng cảm" tuyệt đối. Sự đồng điệu về mặt tâm thức này chính là chất xúc tác mạnh mẽ làm sống dậy ý thức cội nguồn sâu sắc, chuyển hóa mối liên kết từ phạm vi huyết thống, làng xã chật hẹp thành tinh thần "đồng bào" rộng lớn ở quy mô quốc gia - dân tộc.

Ý thức cội nguồn thiêng liêng ấy được biểu hiện ở cấp độ tối cao thông qua tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương tại Phú Thọ, một hiện tượng văn hóa độc đáo mang tính quốc gia toàn vẹn. Mỗi dịp Giỗ Tổ Hùng Vương, dòng người từ khắp mọi miền đất nước và kiều bào nước ngoài cùng hướng về đỉnh núi Nghĩa Lĩnh không chỉ để cầu kết vạn phúc, mà quan trọng hơn, để cùng trải nghiệm một hành trình tâm linh hướng cội [3]. Trong khói hương trầm mặc, tâm thức "chung một bọc" được đánh thức, nhắc nhở mỗi người Việt về một gốc gác lịch sử chung, từ đó thắt chặt sợi dây liên kết cộng đồng, biến tình yêu quê hương thành sức mạnh nội sinh bền chặt.

Mạch nguồn tâm linh hướng về tổ tiên này, khi đối diện với những thử thách của lịch sử dựng nước và giữ nước, đã tự nhiên chuyển hóa thành lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần hộ quốc kiên trung. Điều này phản ánh rõ nét qua hào khí của Lễ hội Đền Trần (Nam Định), nơi phụng thờ các vị vua Trần và Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Khi hòa mình vào các nghi thức mang tính biểu tượng cao như Lễ khai ấn hay Lễ rước nước, cộng đồng không chỉ tri ân công đức tiền nhân mà còn được tiếp nhận bài học giữ nước bất hủ: "Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức" [8]. Sức mạnh tâm linh từ vị "Thánh" của lòng dân đã trở thành biểu tượng củng cố ý chí tự lực, tự cường, kết nối các thế hệ hôm nay trong nhiệm vụ giữ vững ngọn lửa đoàn kết và bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Không chỉ kết nối theo trục dọc lịch sử và huyết thống, điểm tựa tâm linh chung trong lễ hội còn mở rộng theo trục ngang, trở thành bệ đỡ vững chắc cho khối đại đoàn kết giữa các dân tộc anh em trên dải đất hình chữ S. Minh chứng sinh động cho giá trị cố kết này là Lễ hội Katê của đồng bào Chăm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận). Sự tồn tại độc đáo của lễ hội không tách rời vai trò của người Raglai, tộc người được coi là "em út" trong gia đình Chăm - Raglai, giữ nhiệm vụ thiêng liêng là bảo quan và rước sắc phục của thần linh về tháp Chăm để cùng làm đại lễ [1]. Không gian Katê vì thế không còn là của riêng một tộc người, mà đã biến thành điểm hẹn văn hóa hòa hợp tín ngưỡng giữa người Chăm, người Raglai, người Kinh và các dân tộc lân cận, biểu thị sinh động cho sự thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam.

Như vậy, dù ở quy mô quốc gia hay vùng miền, điểm tựa tâm linh chung trong các lễ hội truyền thống chính là "mã di truyền văn hóa" thúc đẩy sự gắn kết lòng người và định vị bản sắc dân tộc. Sức mạnh tinh thần này hoàn toàn thống nhất với định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đó là phát huy tối đa các nguồn lực văn hóa nội sinh nhằm "khơi dậy truyền thống yêu nước, củng cố niềm tin và tinh thần gắn kết dân tộc" [6] trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước.

Thứ hai, Tạo dựng không gian sinh hoạt văn hóa bình đẳng, dân chủ và chia sẻ

Nếu như điểm tựa tâm linh chung tạo nên trục gắn kết theo chiều dọc giữa con người với thế giới siêu nhiên và cội nguồn lịch sử, thì không gian sinh hoạt văn hóa của lễ hội truyền thống lại thiết lập một mạng lưới liên kết theo chiều ngang, điều hòa và tối ưu hóa các mối quan hệ xã hội đương thời. Xét dưới góc độ cấu trúc xã hội, đời sống thường nhật luôn tồn tại những ranh giới, phân tầng nhất định xuất phát từ sự khác biệt về giai cấp, địa vị chính trị, nghề nghiệp hay mức độ giàu nghèo. Tuy nhiên, khi tiếng trống hội vang lên, toàn bộ cấu trúc mang tính tôn ti ấy lập tức được tạm thời tháo dỡ để nhường chỗ cho một không gian biểu đạt văn hóa mang tính dân chủ và bình đẳng cao độ [11]. Trong không gian mở của lễ hội, mọi cá nhân đều trút bỏ tấm áo vị thế của đời thường để cùng trở thành những chủ thể văn hóa bình đẳng, cùng sẻ chia quyền lợi và trách nhiệm trước cộng đồng.

Bản chất dân chủ và tinh thần bình đẳng này được phản ánh sinh động trước hết qua phương thức tổ chức và phân công lao động xã hội tại các lễ hội truyền thống trên khắp mọi miền đất nước. Mối quan hệ giữa các thành viên lúc này không vận hành dựa trên mệnh lệnh hành chính hay quyền lực kinh tế, mà được điều tiết bằng nguyên lý "cộng cảm" (cùng chung xúc cảm) và "cộng mệnh" (cùng chung ước vọng). Sự bình đẳng được thể hiện rõ nét khi một vị chức sắc, một người giàu sang hay một người lao động bình dân đều có thể cùng đứng chung trong một đội tế, cùng thực hiện những động tác lạy tạ thần linh với sự cung kính như nhau. Trạng thái hòa đồng tuyệt đối này đóng vai trò như một van xả tâm lý hữu hiệu, giúp giải tỏa những căng thẳng, mâu thuẫn lợi ích tích tụ trong đời sống sinh kế hằng ngày, từ đó khôi phục và củng cố sự đồng thuận xã hội.

Sức mạnh kết dính của sự bình đẳng và chia sẻ trong lễ hội càng được nhân lên gấp bội thông qua các hoạt động hội mang tính tập thể cao, biểu hiện rõ nét qua các hội thi tài khéo và trò chơi dân gian đặc trưng theo từng vùng địa lý. Dọc theo các làng chài ven biển từ Quảng Bình, Đà Nẵng vào đến Bình Thuận, Lễ hội Cầu Ngư (thờ cá Ông) hằng năm quy tụ toàn bộ ngư dân trong vùng vào một không gian cộng mệnh tuyệt đối [13]. Tại đây, hội thi chèo cạn, lắc thúng hay đua thuyền đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng, tính kỷ luật và sự đồng lòng của mọi thành viên. Vinh quang hay trách nhiệm lúc này không thuộc về cá nhân mà chia đều cho cả vạn chài, thắt chặt tình đoàn kết giữa những con người cùng chung đầu sóng ngọn gió.

Xuôi về vùng đất Nam Bộ, tinh thần dân chủ và sẻ chia ấy lại rực cháy trong không gian Lễ hội Oóc Om Bóc - Đua ghe Ngo của đồng bào Khmer ở Sóc Trăng và Trà Vinh [12]. Chiếc ghe Ngo một biểu tượng thiêng liêng của mỗi ngôi chùa và phum sóc chỉ có thể lao băng băng về đích khi có sự hợp lực của hàng trăm tay chèo đại diện cho sức mạnh tập thể. Không gian lễ hội không có chỗ cho chủ nghĩa cá nhân biệt lập; người bơi chèo, người đánh trống cổ vũ và hàng vạn khán giả thuộc các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa cùng hòa chung một tiếng hò reo, cùng chia sẻ một niềm vui chiến thắng. Sự tương tác thân thể và tinh thần sảng khoái chung này đã xóa nhòa mọi khoảng cách giai tầng, tạo dựng một cộng đồng gắn kết chặt chẽ.

Chính không gian bình đẳng, dân chủ và tinh thần chia sẻ trong lễ hội truyền thống là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng lòng bao dung, tinh thần tương thân tương ái, những phẩm chất cốt lõi cấu thành nên sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Hệ giá trị ứng xử nhân văn này hoàn toàn tương thích và làm phong phú thêm định hướng lý luận của Đảng tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, khơi dậy tinh thần cống hiến vì cộng đồng, nhằm chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành "nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam" [6].

Thứ ba, Cơ chế trao truyền, bảo lưu các giá trị đạo đức và tiếp nối thế hệ

Bên cạnh việc liên kết xã hội theo trục dọc tâm linh và trục ngang giai tầng, giá trị cố kết cộng đồng của lễ hội truyền thống Việt Nam còn được vận hành bền bỉ theo trục thời gian lịch sử thông qua cơ chế trao truyền và tiếp nối thế hệ. Lễ hội truyền thống không bao giờ là một thực thể tĩnh tại hay hóa thạch, mà tồn tại như một "pho sử sống", một trường học thực hành văn hóa lớn của toàn dân. Thông qua chu kỳ tổ chức lặp đi lặp lại hằng năm, lễ hội trở thành phương thức tối ưu để cộng đồng bảo lưu, tái sản xuất và chuyển giao các sợi dây liên kết ứng xử, các quy phạm đạo đức và ý thức trách nhiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác [2]. Chính sự tiếp nối liên tục này đã giữ cho mạch nguồn của khối đại đoàn kết dân tộc luôn được nuôi dưỡng, không bị đứt gãy trước những biến động, thách thức của lịch sử và thời đại.

Trong cấu trúc của bất kỳ một lễ hội nào, sự phân cấp vai trò thực hành nghi lễ chính là biểu hiện rõ nét nhất cho cơ chế trao truyền tự nhiên này. Tiến trình tổ chức lễ hội đòi hỏi sự tham gia gánh vác của toàn bộ các lứa tuổi trong quần cư, từ đó thiết lập một trật tự gắn kết thế hệ chặt chẽ. Điển hình như tại Lễ hội Gióng (Phù Đổng và Sóc Sơn, Hà Nội), quy trình lựa chọn các vai Hiệu (Hiệu Cờ, Hiệu Trống, Hiệu Chiêng...) hay đội phù giá tuân thủ những quy định nghiêm ngặt mang tính kế thừa gia đình và dòng họ qua nhiều đời [4]. Các bậc lão niên giữ vai trò hướng dẫn tri thức và chủ tế; thế hệ thanh niên trai tráng trực tiếp gánh vác việc đóng vai nghi lễ và rước kiệu; trong khi trẻ em háo hức xem hội để thẩm thấu một cách tự nhiên nhất phong tục quê hương. Sự tương tác biện chứng giữa kinh nghiệm của người già và bầu nhiệt huyết của người trẻ trong không gian lễ hội đã tạo nên một sợi dây liên kết tình cảm gia đình, dòng họ vô cùng khăng khít.

Sự trao truyền cốt lõi nhất trong lễ hội truyền thống không chỉ dừng lại ở kỹ thuật thực hành nghi lễ, mà là sự chuyển giao hệ giá trị đạo đức nhân văn của dân tộc, đặc biệt là đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tôn trọng lịch sử và gìn giữ bản sắc tộc người. Trải dài lên các bản làng vùng cao phía Bắc, Lễ hội Lồng Tồng (Hội xuống đồng) của đồng bào Tày, Nùng là một minh chứng sinh động [5]. Tại đây, các nghệ nhân lớn tuổi thiết lập các không gian hát Then, hát Lượn, tung còn để truyền dạy cho thế hệ trẻ. Những lời ca ca ngợi công đức tổ tiên khai phá ruộng nương, răn dạy con người yêu thương nhau, đoàn kết bảo vệ bản bản, mường mường được cụ thể hóa bằng trực quan sinh động, thấm sâu vào tâm hồn thế hệ kế cận.

Tương tự, xuôi vào vùng đất Nam Bộ, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam (An Giang) từ lâu đã trở thành một trung tâm thực hành đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của cư dân Nam Bộ gắn liền với hành trình khẩn hoang, gìn giữ biên cương [10]. Qua các nghi thức tắm Bà, tạ thần được các gia đình trao truyền qua nhiều thế hệ, người trẻ Nam Bộ tự khắc hình thành sự kính ngưỡng sâu sắc đối với lịch sử bảo vệ vùng đất phía Nam của Tổ quốc, nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn khối đoàn kết toàn dân.

Trong bối cảnh đương đại, khi xu hướng toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ số đang tạo ra những rạn nứt nhất định trong mối quan hệ giữa các thế hệ do khoảng cách tư duy, thì lễ hội truyền thống chính là không gian văn hóa đặc biệt để kéo các thế hệ xích lại gần nhau. Định hướng này hoàn toàn đồng điệu với quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đó là phải coi trọng việc giáo dục truyền thống, phát huy các giá trị văn hóa tinh thần để ứng phó với các thách thức văn hóa ngoại lai, nhằm mục tiêu tối cao là "khơi dậy truyền thống yêu nước, củng cố niềm tin và tinh thần gắn kết dân tộc" [6]. Vì vậy, việc duy trì cơ chế trao truyền văn hóa xuyên thế hệ của lễ hội chính là giải pháp nền tảng để giữ vững bản sắc và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc một cách bền vững nhất.

Các nghệ nhân đồng bào dân tộc Mường tỉnh Sơn La tái hiện nghi lễ Mợi (Lễ hội cầu phúc đầu xuân của người Mường)

Các nghệ nhân đồng bào dân tộc Mường tỉnh Sơn La tái hiện nghi lễ Mợi (Lễ hội cầu phúc đầu xuân của người Mường)

2.2. Thực trạng khai thác giá trị cố kết cộng đồng của lễ hội truyền thống trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và Hội nhập quốc tế sâu rộng, sự giao thoa văn hóa và tác động của nền kinh tế thị trường định xã hội chủ nghĩa đã và đang đặt ra tính lưỡng diện đối với việc bảo tồn di sản văn hóa. Quán triệt tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật" của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, việc phân tích khách quan thực trạng khai thác giá trị cố kết cộng đồng của lễ hội truyền thống là cơ sở then chốt để có những giải pháp quản lý, phát huy phù hợp, biến nguồn tài nguyên tinh thần này thành sức mạnh hiện thực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Những kết quả tích cực trong việc khơi dậy sức mạnh gắn kết và đồng thuận xã hội

Thực tiễn những năm qua cho thấy, công tác quản lý, tổ chức và phát huy giá trị của lễ hội truyền thống đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đóng góp trực tiếp và hiệu quả vào việc củng cố khối đại đoàn kết từ cơ sở. Cụ thể được thể hiện qua các điểm sáng sau:

Một là, không gian và quy mô lễ hội được mở rộng, thực sự trở thành "điểm hẹn văn hóa" hội tụ tinh thần đại đoàn kết. Các lễ hội lớn mang tầm vóc quốc gia và vùng miền như Lễ hội Đền Hùng (Phú Thọ), Lễ hội Đền Gióng (Hà Nội), Lễ hội Đền Trần (Nam Định), Lễ hội Katê (Ninh Thuận)... đã vượt ra khỏi ranh giới địa lý chật hẹp của một làng xã. Hàng năm, các lễ hội này thu hút hàng triệu lượt đồng bào từ khắp mọi miền Tổ quốc và kiều bào ở nước ngoài về hành hương, chiêm bái. Sự hội tụ đông đảo của người dân thuộc mọi tầng lớp, tôn giáo, dân tộc trong cùng một không gian tâm linh đã tạo ra sự "cộng cảm" sâu sắc, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào dân tộc và ý thức chung về cội nguồn.

Hai là, vai trò chủ thể văn hóa của nhân dân ngày càng được tôn trọng, tinh thần tự quản cộng đồng được phát huy cao độ. Thực hiện chủ trương "trả lễ hội về cho cộng đồng", nhiều địa phương đã hạn chế sự can thiệp quá sâu của các cơ quan quản lý nhà nước vào phần nghi lễ. Người dân trực tiếp tham gia thảo luận, đóng góp kinh phí và điều hành các hoạt động tế lễ, rước xách hay trò chơi dân gian. Điển hình như tại các phum sóc Nam Bộ trong Lễ hội Oóc Om Bóc hay các buôn làng Tây Nguyên trong Lễ hội Cồng chiêng, khi người dân được làm chủ thực sự đối với di sản của mình, trách nhiệm cá nhân đối với vận mệnh cộng đồng được nâng cao. Việc cùng nhau lo toan việc làng, việc nước đã củng cố vững chắc tình làng nghĩa xóm, thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa nhân dân với chính quyền cơ sở.

Ba là, gắn kết hiệu quả các hoạt động lễ hội với phong trào đền ơn đáp nghĩa và an sinh xã hội. Nhiều ban tổ chức lễ hội đã khéo léo lồng ghép việc thực hành tín ngưỡng với các hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc như: quyên góp quỹ vì người nghèo, trao học bổng cho học sinh nghèo vượt khó, hỗ trợ đồng bào bị thiên tai. Sự chuyển hóa năng lượng tâm linh thành những hành động vật chất cụ thể này đã làm ngời sáng tinh thần tương thân tương ái, "lá lành đùm lá rách", củng cố trực tiếp sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Những hạn chế, bất cập và nguy cơ rạn nứt các mối quan hệ cộng đồng

Bên cạnh những mặt đạt được, quá trình khai thác giá trị của lễ hội truyền thống hiện nay vẫn bộc lộ một số hạn chế, bất cập, tiềm ẩn nguy cơ làm suy yếu sức mạnh gắn kết cộng đồng:

Thứ nhất, tình trạng "thương mại hóa", thực dụng hóa làm phai nhạt tính thiêng của lễ hội. Dưới áp lực của lợi ích kinh tế, không gian của một số lễ hội bị biến thành nơi trục lợi tâm linh, mua bán thần thánh. Sự xuất hiện dày đặc của các dịch vụ chèo kéo khách, đổi tiền lẻ thu phí, bói toán mê tín dị đoan, hay việc đặt tiền giọt dầu lộn xộn đã làm mất đi vẻ trang nghiêm của di tích. Khi các chuẩn mực đạo đức và tính thiêng bị lấn át bởi các giao dịch mang tính thực dụng, sự gắn kết thanh cao giữa con người với con người bị bào mòn, thay vào đó là sự hoài nghi và rạn nứt niềm tin xã hội.

Thứ hai, nguy cơ chia rẽ từ tư duy "cục bộ địa phương" và hiện tượng tranh giành phản cảm. Ở một số lễ hội có các nghi thức mang tính cạnh tranh đặc thù (như tục cướp lộc, cướp phết, rước kiệu), tư duy hiếu thắng, cục bộ của một bộ phận người dân đã dẫn đến tình trạng xô xát, bạo lực. Điển hình là những hình ảnh tranh cướp lộc lộn xộn, bất chấp kỷ cương diễn ra tại một số điểm di tích. Thay vì là chiếc cầu nối gắn kết tình đồng bào, tư duy cục bộ "làng nào biết làng ấy", ích kỷ dòng họ vô hình trung đã kích động mâuthuẫn, chia rẽ giữa các nhóm cư dân, đi ngược lại bản chất nhân văn và mục tiêu đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ ba, hiện tượng "hành chính hóa" và áp đặt quản lý từ cơ quan nhà nước. Tại một số địa phương, vì mục tiêu chạy theo thành tích bề nổi hoặc kích cầu du lịch thuần túy, chính quyền đã can thiệp quá sâu bằng các mệnh lệnh hành chính, biến lễ hội truyền thống thành một sự kiện "sân khấu hóa". Kịch bản được dàn dựng cứng nhắc khiến người dân địa phương - những người vốn là chủ thể sáng tạo và thực hành văn hóa - bị đẩy xuống làm "khán giả" bên lề di sản của chính mình. Khi tính tự nguyện, tự quản mất đi, sự gắn kết cộng đồng tự nhiên bị triệt tiêu, người dân trở nên thờ ơ với các hoạt động chung của địa phương.

Nhìn một cách tổng thể, thực trạng tổ chức và khai thác giá trị lễ hội truyền thống hiện nay phản ánh những mâu thuẫn và thách thức trong quá trình chuyển đổi xã hội. Nếu không kiên quyết chấn chỉnh các biểu hiện lệch chuẩn, thương mại hóa và hành chính hóa, chúng ta sẽ tự làm xói mòn chân đế văn hóa của khối đại đoàn kết. Đúng như quan điểm chỉ đạo sâu sắc tại Nghị quyết số 80-NQ/TW (năm 2026) của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam: Cần phải xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, chấn chỉnh công tác tổ chức lễ hội để bảo vệ và phát huy văn hóa thực sự là "nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam" [6].

Lễ hội truyền thống là di sản tinh thần trường tồn, mang hạt nhân cốt lõi là giá trị cố kết cộng đồng, "chất keo" tự nhiên bền chặt nhất bồi đắp chân đế cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Lễ hội truyền thống là di sản tinh thần trường tồn, mang hạt nhân cốt lõi là giá trị cố kết cộng đồng, "chất keo" tự nhiên bền chặt nhất bồi đắp chân đế cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc

2.3. Hệ thống giải pháp khai thác giá trị cố kết cộng đồng của lễ hội truyền thống nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Để giải quyết triệt để những bất cập, lệch chuẩn trong thực tiễn và phát huy tối ưu hạt nhân bản sắc của lễ hội truyền thống, việc xây dựng các giải pháp phải đi thẳng vào bản chất cốt lõi: khai thác năng lượng gắn kết, tính dân chủ và điểm đồng thuận văn hóa để phục vụ chiến lược đại đoàn kết. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc định hướng chiến lược của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng về khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết trong "kỷ nguyên vươn mình của dân tộc" và Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, hệ thống 5 giải pháp trọng tâm dưới đây được triển khai nhằm bồi đắp bệ đỡ tinh thần quốc gia từ gốc rễ lễ hội:

Một là, Bảo tồn tính tôn nghiêm và phát huy "điểm tựa tâm linh chung" để quy tụ khối đồng thuận quốc gia

Giải pháp căn cốt và mang tính quyết định đầu tiên là phải bảo vệ tính tôn nghiêm, khôi phục sự trong sáng, thanh cao của không gian lễ hội, kiên quyết đẩy lùi các biểu hiện lệch chuẩn, thực dụng hóa vốn đang làm tổn hại đến niềm tin xã hội. Các cơ quan quản lý văn hóa, cấp ủy, chính quyền địa phương và ban tổ chức lễ hội cần tập trung bảo tồn, tôn vinh giá trị của các "biểu tượng tập thể" - các vị anh hùng dân tộc, Thành hoàng làng, Tổ nghề - với tư cách là hiện thân của lý tưởng đạo đức, chuẩn mực ứng xử và lòng tự tôn của cả một cộng đồng [9].

Trong tiến trình thực hành nghi lễ, tính thiêng và điểm tựa tâm linh chung cần được phát huy thông qua việc chuẩn bị và chuẩn hóa nội dung các bài chúc văn, văn tế, chúc từ tại các lễ hội truyền thống lớn mang tính biểu tượng toàn dân (như Giỗ Tổ Hùng Vương, Lễ hội Đền Trần, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam...). Nội dung các bài tế tự không chỉ dừng lại ở tính chất nghi thức thuần túy mà phải khơi dậy mạnh mẽ tâm thức hướng cội, làm sống dậy ý thức sâu sắc về nghĩa vụ "đồng bào", nhắc nhở mỗi cá nhân về công lao của tiền nhân và trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc [3].

Sự đồng điệu trong tâm thức khi hàng triệu trái tim cùng hướng về một điểm tựa tâm linh chung thanh sạch, trang nghiêm sẽ thiết lập trạng thái "cộng cảm" tinh thần mạnh mẽ, giúp con người dễ dàng vượt qua các dị biệt về tôn giáo, phân tầng giai tầng hay lợi ích thường nhật. Khi niềm tin tín ngưỡng được bảo tồn đúng hướng, nó sẽ tự nhiên chuyển hóa thành nguồn sức mạnh nội sinh, tạo bệ đỡ tinh thần vững chắc để quy tụ khối đồng thuận xã hội, thắt chặt sợi dây liên kết đại đoàn kết toàn dân tộc từ gốc rễ cơ sở theo đúng tinh thần chỉ đạo tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam [6].

Hai là, Thực hiện triệt để nguyên tắc "trả lễ hội về cho cộng đồng", phát huy tối ưu không gian sinh hoạt văn hóa dân chủ và bình đẳng

Để khắc phục triệt để xu hướng "hành chính hóa" và áp đặt kịch bản sân khấu hóa một cách khiên cưỡng - tác nhân chính đang làm mờ nhạt vai trò chủ thể và triệt tiêu tính kết dính tự nhiên của hội làng - việc thực hiện nguyên tắc "trả lễ hội về cho cộng đồng" cần phải được tiến hành một cách kiên quyết và nhất quán. Đây không chỉ là một giải pháp thuần túy về mặt nghiệp vụ quản lý văn hóa, mà là một chiến lược căn bản nhằm khơi thông dòng chảy dân chủ, tạo dựng một môi trường xã hội bình đẳng, nơi năng lượng cố kết của quần chúng nhân dân được giải phóng và chuyển hóa trực tiếp thành sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc [11].

Trọng tâm của giải pháp này là sự dịch chuyển căn bản về phương thức quản trị của Nhà nước: chuyển mạnh mẽ từ vai trò "người đứng ra tổ chức, áp đặt" sang vai trò "người định hướng pháp lý, hỗ trợ nguồn lực và giám sát thực hiện". Chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý chuyên ngành phải tôn trọng quyền tự chủ, tự quản của cộng đồng cư dân bản địa - những người vừa là chủ sở hữu, vừa là chủ thể sáng tạo và thực hành di sản. Quyền quyết định về quy mô, phương thức thực hành nghi lễ, việc quản lý và phân phối nguồn thu từ công đức, cũng như việc tổ chức các hoạt động hội cần được trao lại cho đại diện hợp pháp của cộng đồng, như Ban khánh tiết, Hội người cao tuổi, hoặc Hội đồng tộc biểu dưới sự giám sát chung của Mặt trận Tổ quốc cơ sở.

Khi vai trò chủ thể văn hóa của nhân dân được khẳng định, không gian lễ hội sẽ khôi phục được bản chất dân chủ và tinh thần bình đẳng nguyên hợp vốn có của nó. Việc để người dân tự nguyện bàn bạc, tự tay lo toan từ khâu chuẩn bị tế vật, tập luyện các làn điệu dân ca đến việc tổ chức các hội thi tài khéo chính là quá trình thực hành dân chủ sâu sắc ở cơ sở theo đúng phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân hưởng thụ" [7]. Trong không gian dân chủ đó, mối quan hệ giữa các thành viên không bị chi phối bởi mệnh lệnh hành chính hay quyền lực kinh tế, mà được vận hành hoàn toàn theo nguyên lý đồng thuận và chia sẻ. Mọi ranh giới về phân tầng xã hội, nghề nghiệp hay mức độ giàu nghèo của đời sống sinh kế thường nhật sẽ được tháo dỡ, đưa con người vào một trạng thái "cộng cảm" tinh thần trong sáng [11].

Để phát huy tối đa công năng gắn kết của không gian này, ban tổ chức các lễ hội cần hạn chế tối đa các chương trình trình diễn nghệ thuật chuyên nghiệp mang tính áp đặt từ bên ngoài, thay vào đó là ưu tiên khôi phục và mở rộng không gian cho các trò chơi dân gian mang tính tập thể và có sự tham gia đông đảo của quần chúng (như đua thuyền, kéo co, tung còn, hội vật, chèo cạn...) [4]. Những trải nghiệm tương tác trực tiếp, những tiếng cười sảng khoái và cả sự đồng lòng hướng về chiến thắng của vạn chài, phum sóc, hay bản làng trong các hội thi chính là chất xúc tác mạnh mẽ nhất làm mờ nhạt chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, khơi dậy lòng bao dung và thắt chặt tình làng nghĩa xóm.

Việc tạo dựng và bảo vệ một không gian sinh hoạt văn hóa dân chủ, bình đẳng trong lễ hội truyền thống hoàn toàn tương thích với định hướng chỉ đạo chiến lược tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đó là khơi dậy tối đa năng lực cống hiến và sáng tạo văn hóa của quần chúng nhân dân [6]. Khi khối đại đoàn kết được nuôi dưỡng từ sự đồng thuận, tự nguyện và sẻ chia trong không gian hội làng, chân đế của khối đại đoàn kết ấy sẽ trở nên vô cùng vững chắc, tạo nền tảng ổn định chính trị - xã hội sâu rộng từ gốc rễ, đưa đất nước vững vàng tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ba là, Hoàn thiện thể chế quản lý, chấn chỉnh các biểu hiện lệch chuẩn nhằm bảo vệ môi trường văn hóa đoàn kết lành mạnh

Để giải quyết tận gốc những nguy cơ đến từ xu hướng "thương mại hóa", trục lợi tâm linh và các biểu hiện biến tướng vốn đang trực tiếp bào mòn tính thiêng cùng niềm tin xã hội vốn là nền tảng cốt tủy của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, giải pháp trọng tâm mang tính đột phá là phải tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước thông qua việc hoàn thiện thể chế pháp lý và kiên quyết chấn chỉnh các hiện tượng lệch chuẩn văn hóa. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu phải siết chặt kỷ cương, nâng cao năng lực quản trị xã hội, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa [7]. Trong không gian lễ hội truyền thống, quản lý nhà nước chặt chẽ, minh bạch không hề mâu thuẫn với tinh thần tự quản của nhân dân, mà trái lại, chính là hành lang bảo vệ môi trường thực hành di sản lành mạnh, nhân văn và công bằng cho mọi công dân.

Nhiệm vụ trước hết của giải pháp này là các cơ quan chức năng cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện và đồng bộ hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, tổ chức lễ hội truyền thống, phân định rõ ràng trách nhiệm phối hợp giữa các bộ, ngành và chính quyền cơ sở. Cần cụ thể hóa và ban hành các chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi lợi dụng tự do tín ngưỡng để trục lợi cá nhân, bói toán mê tín dị đoan, đổi tiền lẻ thu phí bất hợp pháp, chèo kéo nâng giá dịch vụ, hay việc lạm dụng đặt tiền giọt dầu lộn xộn làm mất đi sự tôn nghiêm của di tích. Khi các ranh giới pháp lý được thiết lập rõ ràng, các hành vi thực dụng, trục lợi thần thánh sẽ bị đẩy lùi, nhường chỗ cho các hành vi ứng xử văn minh, chuẩn mực. Điều này giúp khôi phục bản chất "cộng cảm" thanh cao ban đầu của lễ hội, nơi con người đến với nhau bằng sự trong sáng của tâm hồn chứ không phải bằng các giao dịch mang tính tiền bạc, từ đó ngăn chặn sự rạn nứt niềm tin giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội.

Song song với việc hoàn thiện thể chế, công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát liên ngành trước, trong và sau thời gian diễn ra lễ hội cần được thực hiện quyết liệt, thường xuyên. Chính quyền địa phương cần thành lập các đội phản ứng nhanh để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh và công khai các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật và lệch chuẩn văn hóa trong khuôn viên di tích. Sự nghiêm minh của pháp luật chính là liều thuốc đặc hiệu để trả lại môi trường văn hóa trong sạch cho các cơ sở thờ tự. Một không gian lễ hội trật tự, văn minh sẽ giúp quần chúng nhân dân yên tâm, tự hào tham gia thực hành tín ngưỡng, tạo ra sự đồng thuận, tin tưởng sâu sắc vào năng lực quản lý của Đảng và Nhà nước.

Việc chấn chỉnh các biểu hiện lệch chuẩn và thương mại hóa để bảo vệ môi trường văn hóa lễ hội lành mạnh hoàn toàn thống nhất với quan điểm chỉ đạo cốt lõi tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết đã chỉ rõ, phải kiên quyết đấu tranh loại bỏ các hủ tục, các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, thương mại hóa văn hóa, để các giá trị tinh thần thực sự trở thành "nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam" [6]. Khi không gian lễ hội truyền thống sạch bóng các tệ nạn và tư duy thực dụng, lòng bao dung, sự nhường nhịn và tình đồng bào sẽ có điều kiện kết tinh, tỏa sáng, dệt nên tấm thảm đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững chắc từ gốc rễ xã hội.

Bốn là, Thúc đẩy tính mở và sự giao thoa văn hóa giữa các tộc người, vùng miền để khẳng định sự thống nhất trong đa dạng

Để xóa bỏ tận gốc tư duy "cục bộ địa phương", ích kỷ dòng họ hay các xung đột, phe phái bạo lực - những rào cản trực tiếp cản trước dòng chảy của tinh thần hòa hợp dân tộc - giải pháp mang tính chiến lược là phải kích hoạt và thúc đẩy "tính mở" cùng xu hướng giao thoa văn hóa trong thực hành lễ hội truyền thống. Xét dưới góc độ lịch sử và cấu trúc di sản, lễ hội Việt Nam không bao giờ là một hệ thống khép kín, đóng băng mà luôn sở hữu cơ chế tự điều tiết để tiếp biến và hội tụ văn hóa. Trong giai đoạn hiện nay, khai thác tốt xu hướng này chính là phương thức hữu hiệu để biến không gian hội làng chật hẹp thành môi trường đối thoại liên văn hóa, nơi tinh thần đại đoàn kết được củng cố dựa trên nguyên tắc tôn trọng sự khác biệt và khẳng định tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa quốc gia [7].

Nhiệm vụ trọng tâm của giải pháp này là chính quyền các địa phương và các nhà quản lý văn hóa cần chủ động phá bỏ căn tính khép kín của hội làng bằng cách tăng cường các hoạt động liên kết, giao lưu văn hóa liên vùng và liên tộc người trong tiến trình tổ chức lễ hội. Thực tiễn thực hành di sản cần hướng tới việc tạo dựng không gian để các cộng đồng dân tộc anh em lân cận cùng tham gia đóng góp, chia sẻ các giá trị văn hóa đặc sắc của mình. Sự hòa hợp độc đáo giữa người Chăm và người Raglai trong Lễ hội Katê (vùng duyên hải Nam Trung Bộ), hay sự đồng lòng hội tụ của các cộng đồng Kinh, Khmer, Hoa trong ngày hội đua ghe Ngo và Lễ hội Oóc Om Bóc (vùng đồng bằng sông Cửu Long) chính là những mô hình thực tiễn cần được nghiên cứu, nhân rộng và nâng tầm chính sách [1], [12]. Khi các tộc người cùng chia sẻ một không gian hội hè, cùng hòa chung một tiếng hò reo cổ vũ, những định kiến, kỳ thị vùng miền hay sắc tộc sẽ bị đẩy lùi, nhường chỗ cho sự thấu hiểu, trân trọng và đồng cảm sâu sắc.

Bên cạnh đó, việc tổ chức các lễ hội truyền thống lớn mang tầm vóc quốc gia như Giỗ Tổ Hùng Vương cần được định hướng trở thành ngày hội tụ văn hóa của cả 54 dân tộc anh em thông qua việc luân phiên mời các tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng sinh thái văn hóa khác nhau (vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ...) cùng tham gia góp giỗ, trình diễn di sản phi vật thể [3]. Sự hiện diện của những làn điệu Then của người Tày, tiếng cồng chiêng của đồng bào Ê Đê, Gia Rai hay những điệu đờn ca tài tử Nam Bộ ngay tại đất Tổ Phú Thọ là minh chứng trực quan sinh động nhất cho sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết. Trải nghiệm văn hóa này giúp người dân ở mọi miền đất nước nhận thức rõ ràng rằng, mỗi bản sắc tộc người là một bông hoa rực rỡ góp phần làm phong phú thêm vườn hoa văn hóa thống nhất của dân tộc Việt Nam.

Định hướng thúc đẩy tính mở và giao thoa văn hóa trong lễ hội hoàn toàn bám sát tinh thần cốt lõi của Đảng tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc trong kỷ nguyên mới [7], đồng thời cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết đã khẳng định yêu cầu phải bảo đảm quyền hưởng thụ và sáng tạo văn hóa bình đẳng của nhân dân các dân tộc, coi sự đa dạng văn hóa là nguồn tài nguyên dồi dào để nuôi dưỡng "nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam" [6]. Do đó, việc mở rộng biên độ kết nối của lễ hội chính là chìa khóa để chuyển hóa tư duy cục bộ thành ý thức trách nhiệm quốc gia, tạo nền tảng tinh thần hòa hợp, vững bền cho toàn dân tộc.

Năm là, Chuyển hóa năng lượng cố kết tinh thần từ lễ hội thành các hành động thực tiễn bảo đảm an sinh xã hội và giữ vững chủ quyền quốc gia

Giải pháp mang tính đột phá và đem lại giá trị thực tiễn cao nhất chính là việc chuyển hóa xung lực kết dính tinh thần mang tính tạm thời trong những ngày diễn ra lễ hội thành nguồn lực vật chất hiện thực, phục vụ trực tiếp cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Sức mạnh cố kết cộng đồng của lễ hội truyền thống không nên và không thể chỉ khép lại sau khi tiếng trống rã hội vang lên, mà cần phải được tiếp nối, nuôi dưỡng và chuyển hóa thành những hành động tự giác của quần chúng trong đời sống thường nhật. Đây chính là phương thức căn bản để cụ thể hóa đường lối chiến lược của Đảng tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV về việc xây dựng "mạng lưới an sinh xã hội toàn diện" và phát huy thế trận lòng dân trong kỷ nguyên mới [7].

Mối liên kết "cộng cảm" và tinh thần tương thân tương ái được khơi dậy từ không gian hội làng cần phải được định hướng bộc lộ thông qua các chương trình an sinh xã hội mang tính nhân văn sâu sắc. Chính quyền địa phương và Ban tổ chức các lễ hội cần thiết lập cơ chế quản lý minh bạch, khoa học đối với nguồn lực tài chính thu được từ nguồn công đức và hoạt động xã hội hóa lễ hội. Nguồn lực này, sau khi dành một tỷ lệ hợp lý cho việc tôn tạo, trùng tu di tích, cần phải được công khai sử dụng để đầu tư ngược lại cho các công trình dân sinh tại chỗ, xây dựng nhà đại đoàn kết, hỗ trợ các gia đình chính sách, đỡ đầu trẻ em mồ côi và cứu trợ đồng bào bị thiên tai, dịch bệnh. Việc hiện thực hóa những lời cầu nguyện tốt đẹp thành những ngôi nhà tình nghĩa, những suất học bổng hay những chiếc cầu nông thôn chính là minh chứng thuyết phục nhất cho sức mạnh gắn kết của lễ hội, biến niềm tin tâm linh thành một động lực vật chất to lớn bồi đắp cho khối đại đoàn kết từ gốc rễ.

Đặc biệt, giá trị cố kết cộng đồng của lễ hội truyền thống cần được khai thác triệt để như một thứ "vũ khí văn hóa" sắc bén trong nhiệm vụ giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Các địa phương cần tiếp tục duy trì, nâng tầm tổ chức và giáo dục sâu rộng về các lễ hội độc đáo gắn liền với lịch sử giữ đất, giữ biển của cha ông, như Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa (Quảng Ngãi) hay Lễ hội Nghinh Ông của cư dân vạn chài dọc duyên hải miền Trung và Nam Bộ [13]. Việc thực hành các nghi lễ này vượt lên trên ý nghĩa tâm linh thuần túy, đóng vai trò là những "cột mốc văn hóa chủ quyền" sống động khẳng định quyền sở hữu thiêng liêng của dân tộc đối với biển đảo quê hương. Sức mạnh kết dính tinh thần giữa những người con cùng chung đầu sóng ngọn gió trong lễ hội sẽ tạo ra một mặt trận lòng dân kiên trung, kết nối chặt chẽ ý chí của đất liền với biển xa, của tiền tuyến với hậu phương.

Sự chuyển hóa mạnh mẽ từ năng lượng tinh thần sang hành động thực tiễn này hoàn toàn bám sát quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam. Tinh thần của Nghị quyết đòi hỏi các giá trị văn hóa tinh thần không được tồn tại tách rời mà phải thấm sâu, chuyển hóa thành nguồn lực nội sinh thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước, khơi dậy khát vọng cống hiến vì cộng đồng và nâng cao bản lĩnh của con người Việt Nam trước những thách thức đương đại [6]. Khi sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được tôi luyện và củng cố liên tục qua sự chuyển hóa thực tế này, đất nước sẽ có được một bệ đỡ chiến lược vô cùng vững chắc để tự tin vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

3. Kết luận

Lễ hội truyền thống là di sản tinh thần trường tồn, mang hạt nhân cốt lõi là giá trị cố kết cộng đồng, "chất keo" tự nhiên bền chặt nhất bồi đắp chân đế cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trước những tác động lưỡng diện của bối cảnh hiện nay, việc kiên quyết chấn chỉnh các biểu hiện lệch chuẩn, thương mại hóa hay hành chính hóa để bảo vệ môi trường thực hành di sản lành mạnh, nhân văn là yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Để chuyển hóa nguồn lực tinh thần này thành động lực nội sinh mạnh mẽ theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, hệ thống giải pháp cần đi thẳng vào bản chất di sản: Bảo tồn tính tôn nghiêm của điểm tựa tâm linh chung; trả lễ hội về cho nhân dân tự quản; duy trì mạch nguồn trao truyền liên thế hệ; thúc đẩy giao thoa văn hóa liên vùng và chuyển hóa xung lực tinh thần thành các hành động an sinh xã hội thực tiễn. Phát huy tối ưu năng lượng gắn kết của lễ hội chính là khơi sâu mạch nguồn sức mạnh dân tộc, tạo bệ đỡ vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới phồn vinh, hạnh phúc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Phan Quốc Anh (2006), Văn hóa Chăm trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.

[2] Jan Assmann (2011), Cultural Memory and Early Civilization: Writing, Remembrance, and Political Imagination, Cambridge University Press.

[3] Nguyễn Chí Bền (2013), Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ - Kính ngưỡng tổ tiên một hiện tượng văn hóa độc đáo, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

[4] Trần Lâm Biền (2020), Lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, Nxb. Tổng hợp TP.HCM.

[5] Ma Khánh Bằng (2012), Lễ hội Lồng tồng của người Tày ở Việt Bắc, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

[6] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1, Tập 2), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[8] Đại Việt sử ký toàn thư (Tập II), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 74.

[9] Émile Durkheim (2001), The Elementary Forms of Religious Life, Oxford University Press.

[10] Thạch Phương, Hồ Lê (1992), Văn hóa dân gian vùng đất An Giang, Sở Văn hóa Thông tin An Giang xuất bản.

[11] Victor Turner (1969), The Ritual Process: Structure and Anti-Structure, Aldine Publishing Co.

[12] Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (2018), Văn hóa truyền thống người Khmer đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

[13] Nguyễn Đăng Vũ (2015), Văn hóa dân gian cư dân ven biển Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

ThS. Phan Thị Hải Hà - Ths. Hoàng Diệu Linh (Học viện Hành chính và Quản trị công)

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/khai-thac-gia-tri-co-ket-cong-dong-cua-le-hoi-truyen-thong-nham-tang-cuong-xay-dung-khoi-dai-doan-ket-toan-dan-toc-trong-giai-doan-hien-nay-a34058.html