Khảo sát việc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường tại Ninh Bình: Gỡ 'nút thắt' bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, làng nghề
Qua thực tiễn khảo sát việc triển khai Luật Bảo vệ môi trường 2020, bên cạnh những bước tiến về kiểm soát chất thải và quan trắc môi trường tại các khu công nghiệp, Ninh Bình đối mặt với những 'nút thắt' về hạ tầng, nguồn lực và cơ chế quản lý môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề.
Gỡ nút thắt trong quy định về hạ tầng xử lý nước thải
Qua khảo sát thực tiễn tại một số doanh nghiệp trên địa bàn và làm việc với UBND tỉnh Ninh Bình, Đoàn khảo sát ghi nhận nhiều nỗ lực của địa phương trong kiểm soát môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

Đoàn khảo sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường khảo sát hệ thống thu gom, xử lý thải tại Nhà máy Đạm Ninh Bình. Ảnh: Thanh Chi
Theo báo cáo của UBND tỉnh Ninh Bình, toàn tỉnh hiện có 20 khu công nghiệp, 25 cụm công nghiệp và 171 làng nghề đang hoạt động. Trong đó, 18/20 khu công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn đã xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung và thực hiện thu gom, xử lý nước thải đạt cột A - QCVN 40:2011/BTNMT - Quy chuẩn về nước thải công nghiệp và đã lắp đặt hệ thống quan trắc tự động đối với nước thải, truyền dữ liệu về Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh (đạt tỷ lệ 90%). 2 khu công nghiệp chưa có trạm xử lý nước thải tập trung (khu công nghiệp Tam Điệp và khu công nghiệp Mỹ Trung). Tuy nhiên các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đều có hệ thống thu gom, xử lý nước thải bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường trước khi xả thải ra môi trường.
Đối với cụm công nghiệp, có 17/25 cụm đang hoạt động có hệ thống thu gom, xử lý nước thải, trong đó có 12 cụm đã được cấp giấy phép môi trường và 2 cụm đang thực hiện thủ tục xin cấp giấy phép môi trường theo quy định. Đối với các cụm công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, báo cáo của UBND tỉnh cho biết, cơ bản các doanh nghiệp đầu tư thứ cấp có phát sinh nước thải trong cụm công nghiệp đã thực hiện thu gom, xử lý trước khi thải ra môi trường theo quy định.

Đoàn khảo sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường trao đổi với đại diện Nhà máy dệt nhuộm Sunrise Việt Nam, Ninh Bình. Ảnh: Thanh Chi
Tuy nhiên, ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Vương Quốc Thắng cũng chỉ ra, công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề trên địa bàn vẫn còn là vấn đề nhức nhối. Theo báo cáo của UBND tỉnh, trong 171 làng nghề đang hoạt động có 124 làng nghề đã có phương án bảo vệ môi trường và 7 làng nghề nằm trong danh sách cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần được xử lý.

Đoàn khảo sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường làm việc với UBND tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Thanh Chi
Nêu khó khăn trong công tác bảo vệ môi trường tại làng nghề, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình Lê Hùng Thắng cho biết, khó khăn trong định giá dịch vụ thu gom rác, vận hành hệ thống xử lý nước thải làng nghề do chi phí cao, trong khi người dân khó chi trả; công nghệ của một số doanh nghiệp còn lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.
Một trong những vướng mắc nổi cộm hiện nay tại địa phương là việc hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung. Dù đã có hơn 70% số cụm công nghiệp, làng nghề đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải, nhưng Ninh Bình vẫn còn 7 cụm công nghiệp, làng nghề chưa có trạm xử lý tập trung. Đáng chú ý, 6 trong số này là các cụm hình thành từ sớm (trước năm 2009), chủ yếu phục vụ di dời các hộ sản xuất từ làng nghề.

Đại diện Sở Công Thương tỉnh Ninh Bình báo cáo Đoàn khảo sát. Ảnh: Thanh Chi
Thực tế cho thấy, việc áp đặt quy định “cứng” của Luật Bảo vệ môi trường 2020, trong đó yêu cầu mọi cụm công nghiệp phải có hệ thống xử lý tập trung mới được hoạt động đang gây khó khăn do tính “bất khả kháng” nhưng cũng khó áp dụng trong thực tiễn.
Nêu thực tế trên, đại diện Sở Công Thương tỉnh Ninh Bình cũng cho biết, với diện tích nhỏ chỉ từ 5 - 6 ha, ngành nghề chủ yếu là thủ công mỹ nghệ, may mặc có lượng nước thải ít, việc đầu tư hệ thống tập trung quy mô lớn tại những cụm công nghiệp làng nghề này không những không cần thiết mà còn gây lãng phí nguồn lực, đồng thời, khó thu hút xã hội hóa do doanh nghiệp đầu tư không có hiệu quả kinh tế.
Đại diện Sở Công Thương tỉnh Ninh Bình kiến nghị sửa đổi Điều 52 của Luật Bảo vệ môi trường theo hướng cho phép các cụm công nghiệp cũ, hình thành từ trước năm 2009 (do đây là cụm công nghiệp được thành lập nhằm chủ yếu di dời các hộ sản xuất từ làng nghề, có lộ trình chuyển tiếp hoặc linh hoạt áp dụng xử lý tại chỗ, giúp tháo gỡ điểm nghẽn cho địa phương.
Đề xuất cơ chế tài chính đặc thù vận hành trạm xử lý nước thải tập trung của làng nghề
Kiểm soát môi trường không chỉ là xây dựng trạm thu gom, xử lý chất thải mà còn là công tác giám sát vận hành. Tuy nhiên, nguồn nhân lực quản lý đang ở tình trạng “vừa thiếu lại vừa yếu”.
Nêu vấn đề trên, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình cho biết, ở cấp xã, không có cán bộ chuyên trách về môi trường mà hầu hết là kiêm nhiệm, trong khi khối lượng công việc ngày càng tăng do các nhiệm vụ quản lý được phân cấp về cơ sở. Ngay cả ở cấp tỉnh, việc xây dựng các định mức, đơn giá dịch vụ môi trường cũng gặp khó khăn vì rất ít đơn vị tư vấn có đủ năng lực chuyên môn sâu để phối hợp thực hiện.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tạ Đình Thi phát biểu tại cuộc làm việc với UBND tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Thanh Chi
Thêm vào đó, các nội dung mới theo quy định pháp luật về bảo vệ môi trường như kiểm kê khí nhà kính đang khiến doanh nghiệp lúng túng vì thiếu hồ sơ minh chứng và nhận thức chưa đầy đủ về lợi ích dài hạn.
Mặt khác, việc phải nộp 100% phí bảo vệ môi trường vào ngân sách khiến các địa phương không có nguồn thu trực tiếp để duy trì, vận hành các trạm xử lý tại làng nghề, tạo ra gánh nặng cho ngân sách sự nghiệp môi trường.
Do đó, Ninh Bình kiến nghị, sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường theo hướng bổ sung quy định mới về “cơ chế tài chính đặc thù” đối với vận hành trạm xử lý nước thải tập trung của làng nghề. Trong đó, cho phép sử dụng nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường đối với nước thải của các hộ trong làng nghề để tái đầu tư trực tiếp cho vận hành hệ thống xử lý chung.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình Lê Hùng Thắng báo cáo với Đoàn khảo sát, Ảnh: Thanh Chi
Đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng cho rằng, để kiểm soát toàn diện các vấn đề về môi trường trên địa bàn như bụi mịn từ hoạt động khoáng sản và giao thông, cần có những giải pháp tổng thể và sự đầu tư mạnh mẽ hơn vào hạ tầng quan trắc chung của toàn địa phương.
Theo Báo cáo của UBND tỉnh, một số thách thức mà địa phương gặp phải là: hạ tầng giao thông xuống cấp gây bụi, hạ tầng thu gom rác thiếu đồng bộ, hạ tầng thu gom rác sau phân loại chưa đồng bộ; nguồn nước thải từ Hà Nội đổ về sông Nhuệ - Đáy đặt ra thách thức đối với công tác bảo vệ môi trường nước mặt liên tỉnh.
Ghi nhận những kiến nghị của địa phương, Đoàn khảo sát lưu ý, kiểm soát môi trường tại các khu, cụm công nghiệp và làng nghề không thể chỉ dựa vào các chế tài xử phạt hay những quy định cứng trên văn bản mà đòi hỏi tư duy quản lý dựa trên rủi ro, phân cấp triệt để đi đôi với hỗ trợ nguồn lực. Việc sửa đổi luật theo hướng cắt giảm thủ tục hành chính và kiến tạo phát triển như cách tiếp cận mà Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đề xuất sẽ là cơ sở quan trọng để các địa phương như Ninh Bình thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường trong giai đoạn mới.
Đối với đề xuất của UBND tỉnh Ninh Bình về cơ chế tài chính đặc thù cho bảo vệ môi trường tại làng nghề, Đoàn khảo sát đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu, bổ sung quy định nhằm tạo nguồn thu bền vững từ phí bảo vệ môi trường.
Đối với những khó khăn về hạ tầng thu gom rác, ô nhiễm làng nghề, khu xử lý rác thải và áp lực ô nhiễm sông Nhuệ - Đáy và các bài toán kinh tế kỹ thuật công nghệ…, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tạ Đình Thi đề nghị, Ninh Bình cần có lộ trình cụ thể để tháo gỡ khó khăn; học hỏi kinh nghiệm của các tỉnh, thành khác đã làm; yêu cầu các doanh nghiệp đầu tư công nghệ, hoàn thiện thủ tục cũng như đề xuất với các bộ, ngành giải pháp tháo gỡ khó khăn.











