Khèn Mông - sức sống của đại ngàn
Từ bao đời nay, chiếc khèn được xem như một biểu tượng văn hóa đặc trưng trong đời sống của đồng bào Mông. Giai điệu dặt dìu của tiếng khèn đã trở nên thân thuộc, gần gũi với người Mông và là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống của đồng bào.

Chiếc khèn được xem như biểu tượng văn hóa đặc trưng của đồng bào Mông
Ai đã từng một lần đến với những bản Mông nơi rẻo cao, hẳn sẽ không khỏi bồi hồi, vương vấn bởi thanh âm dặt dìu của tiếng khèn. Ở đó, có tiếng vi vu, xạc xào của gió, có hơi ấm của bếp lửa hồng và có cả men say, nồng đượm hương vị núi rừng. Và hơn thế, khi được đắm mình trong những thanh âm đầy tính biểu cảm ấy, ta sẽ cảm nhận đuợc trọn vẹn hơi ấm của đại ngàn, của tình đất, tình người nơi vùng cao, biên viễn.
Theo lời kể của những người già ở bản Pù Toong, xã Pù Nhi, khi biết cầm cái cuốc trên nương, cầm con dao trên rẫy cũng là lúc người Mông biết chọn những thân gỗ chắc, những gióng trúc dài để làm khèn. Dần theo thời gian, chiếc khèn trở thành vật bất ly thân của người Mông. Khi vui, khi buồn, khi chơi hội hay lúc lên nương, xuống chợ, các chàng trai luôn mang theo chiếc khèn bên mình, như một người bạn tri kỷ. Tùy theo sở thích của người thổi mà người ta chế tác cây khèn với những kích cỡ khác nhau. Cũng với một bầu gỗ và sáu gióng trúc, nhưng người thích âm thanh bổng thì chọn loại ống trúc ngắn, người thích âm thanh trầm thì chọn ống trúc dài. Trúc để làm khèn phải là loại trúc đinh, gióng dài, thân chắc thì âm thanh của khèn phát ra mới có độ vang.

Nghệ nhân truyền dạy cách thổi khèn Mông cho thế hệ trẻ
Khèn Mông là nhạc cụ đa thanh, đa âm sắc với tiết tấu linh hoạt, cùng một lúc, người chơi có thể thổi được nhiều âm, nhiều bè, khi trầm, khi bổng, khi réo rắt cao vút như đang ở trên đỉnh núi, lúc lại mênh mang, lãng đãng như sương chiều. Tiếng khèn theo đồng bào lên nương xua tan những nhọc nhằn, vất vả. Tiếng khèn rộn rã trong ngày hội mùa báo hiệu một cuộc sống ấm no. Và, tiếng khèn tha thiết gọi tình yêu đến bên con người. Có người từng nói “Khèn Mông là tiếng lòng của người Mông”, bởi khi nghe giai điệu của tiếng khèn, ta sẽ cảm nhận được tâm trạng của người thổi, và khi ấy, tiếng khèn trở thành sợi dây gắn kết yêu thương, chia sẻ nỗi niềm.

Tiếng khèn trở thành sợi dây gắn kết yêu thương, chia sẻ nỗi niềm của đồng bào Mông
Sự kết hợp tài tình giữa cách lấy hơi, cách thổi và các động tác mạnh mẽ, uyển chuyển của chàng trai, cô gái Mông khi múa khèn không chỉ thể hiện sức sống mãnh liệt của đồng bào Mông trong quá trình chinh phục thiên nhiên, mà còn thể hiện khát vọng của con người về một cuộc sống no ấm, yên bình...
Trong những ngày hội xuân của đồng bào Mông, chàng trai nào thổi khèn hay, múa khèn giỏi, không chỉ được các cô gái thầm yêu trộm nhớ mà còn nhận được sự quý mến của dân bản và sự nể phục của bạn bè. Thông thường, khi thổi khèn, các chàng trai Mông thường kết hợp với một điệu múa hay một điệu nhảy nào đó. Để thể hiện được một điệu múa khèn, các chàng trai phải có sự tập luyện, có sức khỏe dẻo dai và phải khéo léo trong từng động tác.
Trong các động tác múa khèn, động tác “Khèn pá hộc” vui nhộn, khỏe khoắn được người Mông sử dụng nhiều hơn cả và bao giờ cũng được bà con dân bản cổ vũ nồng nhiệt. Các nghệ nhân múa khèn cho biết, điệu múa “Khèn pá hộc” được xem là “độc chiêu” của người Mông Xứ Thanh và chỉ có người Mông Thanh Hóa mới thể hiện được cái “hồn” của múa “Khèn pá hộc”. Bởi vậy, từ lâu tiết mục này đã trở thành niềm tự hào của người Mông xứ Thanh mỗi khi đi giao lưu với đồng bào Mông trong cả nước.


Tiết mục múa “Khèn Pá hộc” luôn nhận được sự cổ vũ nhiệt tình của bà con dân bản
Đối với đồng bào Mông ở bản Mùa Xuân, xã Sơn Thủy, dù cuộc sống đã có nhiều đổi thay, người dân trong bản đã biết đến các loại nhạc cụ hiện đại, nhưng mỗi khi xuân về hội mở, khắp bản Mông vẫn luôn réo rắt tiếng khèn. Người già trong bản vẫn bảo, tiếng khèn là phần hồn của người Mông, giữ tiếng khèn cũng chính là giữ bản sắc dân tộc mình. Bởi sự hòa hợp của các làn điệu dân ca và âm sắc của khèn đã tạo nên hơi thở, tạo nên sức sống của đại ngàn.
Khèn không chỉ gắn bó với sinh hoạt, lễ hội, đời sống tâm linh của đồng bào Mông, mà còn là phương tiện để các chàng trai bày tỏ tình cảm của mình với cô gái mà từ lâu mình đã từng thầm thương, trộm nhớ. Thông thường ở các bản người Mông, nếu chàng trai muốn tìm bạn gái để tâm sự, trao duyên thì tự mình phải thổi được ít nhất vài điệu khèn. Và khi đó, tiếng khèn sẽ như một lời thủ thỉ, tâm tình, chắp gió thành lời yêu thương.
Theo gió núi, mây ngàn, tiếng khèn mang lời tỏ tình của chàng trai đến bên cô gái. Và khi đã ưng cái bụng, cô gái sẽ cùng chàng trai tìm nơi hò hẹn, trao duyên. Trong không gian mênh mang của núi rừng, chàng trai sẽ cất lên những giai điệu khèn giao duyên, trữ tình như trải nỗi lòng mình với người yêu...

Tiếng khèn còn là phương tiện để các chàng trai bày tỏ tình cảm của mình
Đồng bào Mông cho rằng: Khi xem những làn điệu dân vũ Mông nói riêng, khèn Mông nói chung, mỗi người sẽ thấy được cái hay, cái đẹp của nó, để càng thấy yêu quê hương, làng bản, càng có thêm niềm hứng khởi, hăng say để lao động sản xuất. Từ đó, mỗi người sẽ càng thêm trân trọng và gìn giữ những giá trị văn hóa của dân tộc mình.



Sự hòa hợp của các làn điệu dân ca và âm sắc của khèn đã tạo nên hơi thở, tạo nên sức sống của đại ngàn.
Một nhà nghiên cứu văn hóa đã nói: “Đến với khèn Mông một ngày để nhớ tiếng khèn Mông một đời”. Thật vậy, giữa vô vàn thanh âm, sắc màu của miền sơn cước, lắng lòng mình trong giây lát, nghe thanh âm của núi, hơi ấm nồng nàn của rừng hòa quyện trong tiếng khèn Mông da diết, ta sẽ cảm nhận trọn vẹn nhịp sống bất tận của vùng cao Xứ Thanh.
Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/khen-mong-suc-song-cua-dai-ngan-41324.htm











