Khi người trẻ chọn về quê
Mang theo tư duy thị trường, kỹ năng quản trị và khát vọng làm giàu trên chính mảnh đất mình sinh ra, nhiều người trẻ xứ Quảng đang từng ngày viết lại câu chuyện nông thôn bằng những mô hình mới, dù phía trước là không ít thử thách, áp lực và cả sự hoài nghi.

Anh Hoàng Ngọc Minh bên vườn nho của mình. Ảnh: N.T
Tiếng nhạc giao hưởng giữa trại gà ác
Một sáng cuối tháng Năm, vùng quê xã Duy Xuyên vẫn còn bảng lảng mùi rơm mới. Giữa không gian yên ả ấy, chị Phạm Thị Nhân (34 tuổi) tất bật đi giữa những dãy chuồng nuôi gà ác khép kín rộng hàng nghìn mét vuông.
Tiếng nước róc rách từ hệ thống làm mát hòa cùng những giai điệu giao hưởng du dương phát ra từ những chiếc loa treo khắp trang trại. Hàng ngàn con gà ác ở đây được “nghe nhạc” mỗi ngày. Người dân quanh vùng ban đầu thấy lạ, thậm chí bật cười trước ý tưởng ấy. Nhưng với chị Nhân, âm nhạc không phải chuyện làm màu. Đó là một phần trong quy trình chăn nuôi hiện đại giúp đàn gà giảm căng thẳng, ổn định sinh trưởng và nâng cao chất lượng trứng.
Ít ai biết rằng trước khi trở thành chủ một trang trại quy mô lớn, chị từng có công việc ổn định tại một ngân hàng ở thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc sống nơi đô thị đủ đầy nhưng chị mãi day dứt trước câu hỏi: “Vì sao người trẻ quê mình cứ phải rời đi mới tìm thấy cơ hội?”. Để tự tìm câu trả lời cho chính mình, chị cùng chồng quyết định trở về quê hương khởi nghiệp.
Những ngày đầu gần như là chuỗi ngày tự học trong áp lực. Chị tự mày mò từ kỹ thuật chăm sóc, phòng dịch, phối trộn thức ăn đến xây dựng thương hiệu và tìm đầu ra sản phẩm. Thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm quản trị, chi phí vận hành đè nặng lên vai hai vợ chồng trẻ.
Nhưng thay vì làm nông theo kiểu “được mùa nhờ trời”, chị Nhân chọn cách vận hành trang trại như một doanh nghiệp thực thụ. Chị đầu tư hệ thống làm mát, đệm lót sinh học, xây dựng quy trình chăn nuôi sạch và tính toán thị trường ngay từ đầu. Sự kiên trì rồi cũng được đền đáp. Mỗi ngày, trang trại cung ứng hơn 2.500 quả trứng gà ác ra thị trường Đà Nẵng, Quảng Ngãi. Sản phẩm OCOP 3 sao mang thương hiệu Hảo Nhân dần được người tiêu dùng biết đến. Ngay cả phân gà cũng trở thành nguồn thu khi được bán cho các nhà vườn trồng cà phê ở Tây Nguyên.
Giấc mơ nho mẫu đơn ở vùng “rốn lũ”
Nếu chị Nhân chọn con đường chăn nuôi thì anh Hoàng Ngọc Minh (40 tuổi, ở Đại Lộc) lại quyết tâm đưa những giàn nho xanh mướt - loại cây vốn được xem là “đặc sản” của vùng Ninh Thuận hay các nước ôn đới về bén rễ trên dải đất miền Trung đầy nắng gió.
Năm 2009, anh Hoàng Ngọc Minh tốt nghiệp ngành Kỹ sư điện của Trường Đại học Bách khoa (Đại học Đà Nẵng). Sau đó, anh được nhận vào làm việc tại một nhà máy thủy điện ở vùng Tây Nguyên với mức thu nhập ổn định. Tuy nhiên sau 12 năm làm việc, anh quyết định bỏ ngang công việc trở về quê nhà.
Trong một lần ghé thăm người quen ở miền Bắc, anh Minh bị thu hút bởi mô hình trồng nho. Ý tưởng đưa giống cây vốn được xem là “khó tính” này về miền Trung đầy nắng gió bắt đầu hình thành từ đó. Nhưng lý thuyết và thực tế là hai khoảng cách mênh mông. Ngày bắt tay vào làm trên diện tích hơn 800m², anh Minh đối mặt với muôn vàn thử thách và sự hoài nghi của nhiều người.
“Có người nghĩ chắc mình có vấn đề mới bỏ công việc lương cao để về làm nông. Điều khiến nhiều người không khỏi thắc mắc nữa là với khí hậu khắc nghiệt với cái nắng như đổ lửa vào mùa hè và những đợt mưa kéo dài vào mùa đông thì làm sao phù hợp với cây nho", anh Minh nhớ lại.
Bỏ ngoài tai những lời xì xào bàn tán, anh bắt đầu tự tìm hiểu, nhập giống cây từ nước ngoài về trồng thử nghiệm. Không có nhiều kinh nghiệm, anh vừa làm vừa học, từ khâu chọn giống, xử lý đất, dựng giàn đến kỹ thuật cắt tỉa, chăm sóc để cây ra hoa kết trái. Cứ làm đến đâu là anh học đến đó. Từ việc chọn giống, chọn bầu đất cho đến cách tỉa cành, chăm cây.
Vụ nho đầu tiên thất bại vì sâu bệnh và thời tiết, nhìn cả vườn cây héo úa, tiền của đổ vào như muối bỏ bể, anh mất ngủ nhiều đêm. Áp lực kinh tế càng đè nặng khi suốt hai năm đầu tiên, vườn nho gần như chưa mang lại doanh thu, trong khi chi phí đầu tư giống, làm giàn, phân bón và chăm sóc vẫn liên tục phát sinh.
Với tư duy của một kỹ sư, anh bắt đầu phân tích lại từng thông số: độ pH của đất, lượng nước tưới, độ ẩm, kỹ thuật bọc trái chống sâu bệnh. Anh nhận ra nông nghiệp hiện đại không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền miệng, mà phải dựa trên dữ liệu, khoa học và khả năng thích nghi.
Khoảng giữa tháng Năm đến tháng Sáu, khu vườn nho của anh Minh bước vào mùa đẹp nhất. Dưới cái nắng đầu hạ, những chùm nho mẫu đơn căng mọng nổi bật giữa màu lá xanh mướt, tạo nên khung cảnh bình yên hiếm thấy. Năm ngoái, vườn nho cho sản lượng hơn 4 tạ, thu về khoảng 70 triệu đồng.
Nhưng điều đáng nói hơn là nhiều du khách đã tìm đến tham quan, chụp ảnh, trải nghiệm hái quả tại vườn. Quan trọng hơn, anh hiểu rằng người tiêu dùng hôm nay không chỉ mua trái cây sạch. Họ còn mua trải nghiệm và câu chuyện phía sau sản phẩm. Từ đó, anh định hướng lại mô hình theo hướng du lịch nông nghiệp sinh thái.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/khi-nguoi-tre-chon-ve-que-3338772.html











