Khoa học, công nghệ: 'Lực đẩy' cho tăng trưởng kinh tế cao và bền vững
Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, áp lực không chỉ nằm ở việc duy trì tốc độ tăng trưởng, mà còn phải bảo đảm chất lượng, tính bền vững và khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Dự án Trung tâm hội nghị APEC và các công trình chức năng đang đẩy nhanh tiến độ thi công. Ảnh: Lê Huy Hải TTXVN
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh các động lực truyền thống dần suy giảm, yêu cầu chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng cũ dựa vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở nên cấp thiết, nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.
Sau 4 thập kỷ đổi mới (1986-2026), Việt Nam đã vươn lên từ một nền kinh tế có thu nhập thấp trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, với quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Tốc độ tăng trưởng GDP duy trì ở mức khá cao trong thời gian dài, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng được hoàn thiện.
Việt Nam cũng trở thành một “mắt xích” quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, với kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng trưởng, nhiều mặt hàng đạt giá trị trên 1 tỷ USD. Khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tuy nhiên, những thành tựu này chủ yếu được tạo ra từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn đầu tư, lao động chi phí thấp và khai thác lợi thế tài nguyên giá rẻ. Khi các yếu tố này dần chạm ngưỡng, nền kinh tế bắt đầu bộc lộ những hạn chế mang tính cấu trúc.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ, mô hình tăng trưởng chưa thực sự dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tái cơ cấu kinh tế còn chậm; nội lực còn yếu; năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh chưa cao. Đây là những rào cản lớn trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao hơn trong giai đoạn tới.
Phân tích cụ thể về vấn đề trên, GS.TS Trần Thị Vân Hoa, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng: Sau 40 năm Đổi mới (1986-2026), Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội có ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung nghèo nàn, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế có thu nhập trung bình với quy mô GDP đạt 514 tỷ USD vào 2025; thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người tăng từ 110 USD/người vào năm 1986 lên 4.496 USD/người vào năm 2025, tiệm cận với mức thu nhập của nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao (4.516 USD/người).
Tuy nhiên, GS.TS Trần Thị Vân Hoa cũng thẳng thắn cho rằng, mô hình phát triển đất nước hiện tại đang bộc lộ nhiều hạn chế như: chất lượng cuộc sống chưa cao, ô nhiễm môi trường lớn, tăng trưởng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào vốn đầu tư và lao động giá rẻ, năng lực nội sinh yếu, trên 70% giá trị xuất khẩu vẫn đến từ các doanh nghiệp FDI và đối diện nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình… Điều này cho thấy năng lực nội sinh còn yếu, chưa tạo được nền tảng vững chắc cho tăng trưởng dài hạn.
Có thể nói, mô hình tăng trưởng của Việt Nam chưa thực sự dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tái cơ cấu kinh tế còn chậm, thiếu đột phá; nội lực nền kinh tế còn yếu; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp. Trong khi đó, bước sang giai đoạn 2026-2030, Đại hội XIV đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên. Đây được đánh giá mục tiêu rất cao trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và các dư địa tăng trưởng truyền thống đang dần thu hẹp. Áp lực không chỉ nằm ở việc duy trì tốc độ tăng trưởng, mà còn phải bảo đảm chất lượng, tính bền vững và khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Thi công dự án đầu tư mở rộng Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc (An Giang) phục vụ Hội nghị Cấp cao APEC 2027. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN
PGS. TS Trần Đình Thiên, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng thẳng thắn cho rằng, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không quốc gia nào có thể duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn nếu không dựa vào tiến bộ công nghệ. Các nền kinh tế có tốc độ phát triển ‘thần kỳ’ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đều có một điểm chung là chú trọng phát triển khoa học, công nghệ. Đây được coi là bài học có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam trong việc lựa chọn mô hình phát triển mới.
Từ những phân tích trên, các chuyên gia cho rằng, trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống suy giảm, việc chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu tất yếu. Nhấn mạnh hơn đến vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và giai đoạn 2026-2030, PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng cho biết: Khoa học, công nghệ không còn chỉ là lĩnh vực hỗ trợ mà đã trở thành trục xuyên suốt của mô hình tăng trưởng mới. Điều này đòi hỏi sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển, từ dựa vào các yếu tố đầu vào sang dựa vào năng suất, tri thức và công nghệ.
Tuy nhiên, để chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, các chuyên gia cũng nhấn mạnh, một trong những yêu cầu quan trọng là hoàn thiện thể chế theo hướng tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo. Thể chế cần đi trước một bước, vừa bảo đảm quản lý nhà nước, vừa mở đường cho các mô hình kinh doanh mới và công nghệ mới phát triển.
Cùng với đó, việc chấp nhận thử nghiệm, giảm rào cản và khuyến khích sáng tạo sẽ là yếu tố quyết định khả năng chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Cùng với đó, hạ tầng số cần được đầu tư đồng bộ, đặc biệt là hạ tầng dữ liệu. Trong nền kinh tế hiện đại, dữ liệu đóng vai trò tương tự như hạ tầng giao thông trong nền kinh tế truyền thống, là nền tảng để kết nối, chia sẻ và tạo ra giá trị mới.
Ở góc độ doanh nghiệp, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số là yếu tố sống còn. Doanh nghiệp không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà phải trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trực tiếp ứng dụng công nghệ để nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.
Liên quan đến vấn đề này, ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch Tập đoàn CMC, Chủ tịch Tập đoàn CMC, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng khẳng định: Dữ liệu không còn đơn thuần là một yếu tố công nghệ, mà đã trở thành một loại hạ tầng sản xuất mới. Theo đó, việc khai thác hiệu quả dữ liệu sẽ mở ra không gian tăng trưởng mới cho nền kinh tế. Bên cạnh thể chế và hạ tầng, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quyết định. Việt Nam đang có lợi thế dân số vàng, nhưng để chuyển hóa thành động lực tăng trưởng, cần tập trung đào tạo kỹ năng công nghệ, đổi mới sáng tạo và tư duy số cho lực lượng lao động.
Ngoài ra, cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các trường đại học, nhằm hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh. Đây là nền tảng để nâng cao năng lực nội sinh, giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu và gia tăng giá trị nội địa.
Từ những phân tích trên, các chuyên gia cho rằng, tổng thể mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam được xác định là chuyển từ dựa vào vốn, lao động và gia công sang dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là sự chuyển dịch mang tính chiến lược, quyết định khả năng đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, bối cảnh địa chính trị diễn biến phức tạp ảnh hưởng mạnh đến giá nguyên vật liệu đầu vào và logistics, chuỗi cung ứng, việc chậm chuyển đổi sẽ khiến Việt Nam đối mặt với nguy cơ tụt hậu. Ngược lại, nếu tận dụng tốt cơ hội từ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, nền kinh tế hoàn toàn có thể tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và năng lực cạnh tranh.











