Khoa học công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số Khoa học công nghệ thành sinh kế bền vững

Báo cáo tổng kết của Bộ Khoa học và Công nghệ về kết quả 10 năm triển khai Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số (Chương trình) đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất đem lại giá trị kinh tế cao, khẳng định vai trò then chốt trong việc ứng dụng khoa học và công nghệ đến gần hơn với người dân, nhất là vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số.

Hàng nghìn mô hình ứng dụng KHCN đem lại giá trị kinh tế cao

Trở lại 10 năm trước, ngày 13/10/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1747 phê duyệt Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025 (Chương trình), hầu hết các địa phương đều phấn khởi Chương trình sẽ mở ra con đường mới để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn, miền núi và dân tộc ít người.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định và các đại biểu thăm quan các gian hàng giới thiệu sản phẩm thuộc Chương trình

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định và các đại biểu thăm quan các gian hàng giới thiệu sản phẩm thuộc Chương trình

Thực tiễn chứng minh, trong 10 năm Chương trình đã triển khai 551 dự án tại 34/34 tỉnh, thành phố trên cả nước. Có 1.426 mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ được xây dựng và 2.354 quy trình công nghệ mới, tiên tiến được chuyển giao.

Những con số trên là minh chứng cho việc khoa học và công nghệ đã đến gần hơn với hoạt động sản xuất của người dân, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Tại Hội thảo tổng kết Chương trình giai đoạn 2016 - 2025 vừa qua, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định khẳng định: “Thành công lớn nhất của Chương trình không chỉ nằm ở số lượng mô hình, quy trình được chuyển giao mà còn ở việc đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở; biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành sinh kế và đổi mới sáng tạo thành động lực phát triển địa phương”.

Điều đáng mừng, khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất tại các vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được rút ngắn. Nhiều sản phẩm đã được gắn thương hiệu, kết tinh từ ứng dụng khoa học, công nghệ đem lại giá trị cao hơn, bền vững hơn; nhiều mô hình cho doanh thu hàng tỷ đồng, trung bình tăng hơn 30% giá trị kinh tế so với phương thức canh tác cũ. Khoa học và công nghệ đã thực sự trở thành “đòn bẩy” giúp nhiều địa phương chuyển từ tư duy sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa, từ bán nguyên liệu thô sang tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

Phó cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo (Bộ Khoa học và Công nghệ) Chu Thúc Đạt phấn khởi cho biết, nhiều sản phẩm đã được gắn thương hiệu, kết tinh trí tuệ của các nhà khoa học phối hợp với sức lao động của bà con trên cánh đồng để tạo ra giá trị cao hơn, bền vững hơn, mở cửa vào các chuỗi siêu thị và ngành hàng bài bản. Thực tiễn chứng minh, khi có sự hỗ trợ định hướng và nguồn lực từ nhà nước, các nhà khoa học đã có “đất diễn” để mang những công nghệ hiện đại nhất áp dụng trực tiếp tại cơ sở và tạo ra giá trị kinh tế cao.

Thay đổi tư duy sản xuất, mở hướng phát triển bền vững

Bên cạnh việc tạo ra giá trị kinh tế lớn từ các mô hình ứng dụng khoa học công nghệ, Chương trình còn góp phần đào tạo lực lượng lao động có tay nghề cao, góp phần thay đổi căn bản tư duy sản xuất của người dân, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở. Đây chính là nền tảng nội lực vững chắc để các địa phương vùng cao tự chủ phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong tương lai.

Trong 10 năm qua, Chương trình đã đào tạo hơn 1.800 cán bộ quản lý, hơn 4.000 kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn kỹ thuật cho trên 82.700 lượt nông dân. Đây là lực lượng nòng cốt giúp các tiến bộ khoa học không dừng lại sau khi dự án kết thúc, mà tiếp tục được duy trì, nhân rộng và thích ứng với điều kiện thực tế tại địa phương.

TS. Nguyễn Văn Tỉnh - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hoa, cây cảnh (Viện nghiên cứu rau quả) chia sẻ, giá trị lớn nhất không chỉ là các mô hình hoa công nghệ cao đạt doanh thu 2,5 - 3 tỷ đồng/ha, mà là việc “chuyển giao niềm tin" - niềm tin của người dân vào việc tri thức có thể làm giàu trên chính mảnh đất quê hương. Nhờ đó, từ chỗ còn e ngại với công nghệ mới, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư, học hỏi và làm chủ kỹ thuật. Nhiều cán bộ kỹ thuật cơ sở đã trở thành những hạt nhân lan tỏa tri thức khoa học tại địa phương. Nhiều mô hình sau khi kết thúc dự án vẫn tiếp tục được duy trì, phát triển và trở thành điểm tham quan, học tập cho các vùng khác.

Để khoa học và công nghệ tiếp tục là đột phá chiến lược theo đúng tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cho rằng, cần đổi mới mạnh mẽ về tư duy và phương thức triển khai Chương trình. Chuyển từ hỗ trợ mô hình sang giải quyết các bài toán phát triển của địa phương; từ chuyển giao công nghệ thuần túy sang làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; từ hỗ trợ riêng lẻ sang phát triển chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại cơ sở, lấy doanh nghiệp làm trung tâm; đánh giá số lượng mô hình sang hiệu quả kinh tế - xã hội thực tế và khả năng tự nhân rộng của mô hình.

ĐÀO CẢNH

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/khoa-hoc-cong-nghe-thuc-day-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-nong-thon-mien-nui-vung-dan-toc-thieu-so-khoa-hoc-cong-nghe-thanh-sinh-ke-ben-vung-10422432.html